fbpx
Trang chủ / Smiling Fingers / Sổ tay giáo viên

Sổ tay Giáo Viên

Phần 1
NHIỆM VỤ GIÁO VIÊN

1. Hiểu và thực hiện đúng nhiệm vụ, sứ mệnh, văn hóa ứng xử của trường.

2. Bảo vệ an toàn về thể chất, tinh thần và tính mạng của trẻ trong thời gian trẻ ở trường.

3. Thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ theo kế hoạch giáo dục của nhà trường và tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nhóm, lớp được phân công phụ trách; thực hiện công tác giáo dục hòa nhập và quyền trẻ em.

4. Chuẩn bị môi trường lớp học.

5. Lập kế hoạch và soạn bài, làm học cụ giảng dạy.

6. Quan sát, ghi chú và lưu trữ những thông tin về tâm sinh lý và hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ.

7. Đánh giá, làm báo cáo sự phát triển của trẻ.

8. Họp Phụ huynh, phổ biến kiến thức hỗ trợ trẻ cho ba mẹ của trẻ, phối hợp với ba mẹ hoặc người giám hộ trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ.

9. Tham gia và chuẩn bị cho các lễ hội, hội thảo, training, sinh nhật…và các sự kiện khác của trường.

10. Tư vấn, chia sẻ, hỗ trợ, dẫn dắt, hướng dẫn đồng nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ, về thực hiện các chương trình, các hoạt động, các sự kiện…của trường.

11. Đề xuất các nội dung chuyên môn và các nội dung khác của trường.

12. Biên tập hoặc biên soạn các nội dung tài liệu giảng dạy theo chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục.

13. Sử dụng có hiệu quản và bảo quản học cụ, thiết bị, cơ sở vật chất được giao.

14. Thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công.

15. Thực hiện quy định của nhà trường và các quy định khác của pháp luật.

16. Viết, chia sẻ những mẫu chuyện có thật hoặc sáng tác, lời thoại giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô giáo.

Phần 2
GIÁO VIÊN VỚI NHÀ TRƯỜNG

Smiling Fingers được thành lập từ tháng 6 năm 2017 với mong muốn tạo môi trường vui vẻ, thoải mái, bình yên, thân thiện và giúp hỗ trợ tối đa tiềm năng tốt đẹp của trẻ, giúp trẻ học cách thích nghi và tự xây dựng bản thân mình khi đến chung sống nơi đây.

Để làm được điều này, ban lãnh đạo Nhà trường đã, đang và sẽ hợp tác, cùng chung tay với nhiều giáo viên, công nhân viên. Do đó, mỗi thành viên đều là đại diện cho Smiling Fingers dù ở bất cứ nơi đâu khi các bạn vẫn còn cộng tác với SFs.

Mỗi thành viên Smiling Fingers làm việc vì lợi ích của chính các bạn vì Nhà trường luôn đặt quyền lợi đã cam kết với toàn bộ nhân viên lên trên quyền lợi của Nhà trường (Nhà trường luôn nghĩ đến quyền lợi đã thỏa thuận trong hợp đồng với người lao động trước rồi mới nghĩ đến lợi nhuận sau) … nên Nhà trường sẽ chỉ hợp tác với nhân sự có giá trị và chuyển giao được giá trị mình có một cách hiệu quả.

Mỗi nhân viên cần xây dựng cho mình thương hiệu cá nhân, nâng cao năng lực làm việc để có thể trao giá trị dương cho người nhận và nhận được mức lương, chế độ đãi ngộ tốt nhất. Nếu Nhà trường không thể đáp ứng được thì các bạn sẽ có nhiều cơ hội tốt hơn ở môi trường mới. Chúng ta sẽ tôn trọng thỏa thuận, cam kết trước khi làm việc, tuyệt đối không ồn ào với đồng nghiệp, với những người khác và đặc biệt trên mạng xã hội.

Để biết làm thế nào để tạo thương hiệu cá nhân, các bạn có thể tham khảo bài hướng dẫn cách xây dựng thương hiệu cá nhân sau:

Thương hiệu cá nhân
Nhiều người nhầm lẫn khi cứ gắn chặt thương hiệu cá nhân với ngoại hình đẹp, trang phục chỉn chu, hợp thời trang, cách thức đi đứng, ăn nói đĩnh đạc, lưu loát, có sức thu hút, xài hàng hiệu, đi ô tô sang… Họ cứ hình dung thương hiệu cá nhân đâu đó giống như thương hiệu của các ca sĩ, người mẫu, MC trên sân khấu, hay doanh nhân thành đạt, đại gia giàu có…

Cách hiểu này là không đúng, vì bất kỳ người nào, hoạt động ở lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng thương hiệu cá nhân; và thương hiệu cá nhân không nhất thiết phải có ngoại hình chuẩn, ăn mặc sang trọng, ăn nói lưu loát, hay phải đi ô tô, dùng hàng hiệu… Thương hiệu cá nhân, cũng như thương hiệu sản phẩm, là để trả lời các câu hỏi:

• Tôi là ai?

• Tôi đại diện cho cái gì?

•Tôi có thể làm gì cho bạn (cho đối tượng mục tiêu mà mình muốn hướng đến)

• Vì sao bạn phải quan tâm?

• Làm sao để bạn tin vào điều tôi có thể làm cho bạn?

Tôi là ai, tức phải xác định rõ ràng mình là ai trong con mắt của nhóm đối tượng mục tiêu mà mình muốn hướng đến. Ví dụ, bạn là cầu thủ, thì đối tượng mục tiêu là những người hâm mộ bóng đá. Bạn là ca sĩ thì đối tượng mục tiêu mà bạn hướng đến là người hâm mộ dòng nhạc của bạn. Bạn là thủ lĩnh sinh viên thì đối tượng mục tiêu là giới sinh viên. Bạn là thầy thuốc đông y, thì đối tượng mục tiêu là những người dùng thuốc đông y …

Tôi đại diện cho cái gì, tức phải xác định rõ hơn chút nữa bạn chuyên về cái gì. Ví dụ, tôi là ca sĩ, tôi chuyên hát dòng nhạc nhẹ; tôi là cầu thủ, và là cầu thủ tiền đạo, chuyên chạy cánh trái; tối là thủ lĩnh sinh viên trong phong trào hoạt động cộng đồng; tôi là thầy thuốc đông y, chuyên trị bệnh xương khớp …

Tôi có thể làm gì, tức tôi có thể đem lại lợi ích gì cho khách hàng. Ví dụ, giọng ca khàn đặc biệt đem lại nhiều cảm xúc (nếu là ca sĩ); hiệu suất ghi bàn (nếu là cầu thủ); nhiệt huyết và kinh nghiệm tổ chức hoạt động cộng đồng (nếu là thủ lĩnh sinh viên); trị dứt đau nhức xương khớp trong vòng 6 tháng (nếu là thầy thuốc đông y) …

Vì sao bạn phải quan tâm, tức phải cho người ta thấy nguyên nhân, nguồn gốc thế mạnh của mình. Ví dụ, vì tôi được đào tạo bài bản về thanh nhạc và có giọng ca tài năng bẩm sinh (nếu là ca sĩ); vì tôi được học lớp năng khiếu bóng đá từ bé, và từng đá tiền đạo cánh trái cho các đội bóng mạnh như … (nếu là cầu thủ); vì tôi có kinh nghiệm 3 năm tổ chức hoạt động cộng đồng cho sinh viên, từ lúc còn là sinh viên năm thứ nhất (nếu là thủ lĩnh sinh viên); vì tôi đã từng chữa dứt bệnh xương khớp cho những nhân vật nổi tiếng như … (nếu là thầy thuốc đông y) …

Làm sao để bạn tin vào điều tôi có thể làm được cho bạn, tức phải chứng minh bằng chất lượng sản phẩm. Bạn phải chứng minh bằng giọng ca đặc biệt có sức thu hút của bạn (nếu là ca sĩ), bằng tốc độ dẫn bóng và hiệu suất ghi bàn (nếu là cầu thủ), là cách tổ chức hoạt động cộng đồng hiệu quả (nếu là thủ lĩnh sinh viên), là kết quả chữa bệnh (nếu là thấy thuốc đông y) …

Xây dựng thương hiệu cá nhân là một quá trình rất dài và cũng gian nan như xây dựng thương hiệu sản phẩm. Tuy vậy, khi thương hiệu cá nhân đã thành danh, lợi ích mang lại cho người có thương hiệu cá nhân là rất lớn, không khác gì thương hiệu sản phẩm đã thành danh!

Bạn làm việc ở bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào, bạn cũng có thể làm marketing bản thân trong ngành nghề, lĩnh vực ấy. Bạn là cầu thủ bóng đá, ca sĩ, nghệ sĩ, thợ mộc, thợ may, thợ nề …; bạn có tay nghề cơ khí, điện, điện tử, sửa xe, sửa nhà, xây dựng …; bạn có năng khiếu hội họa, âm nhạc, thể thao …; bạn có tài năng viết lách, ký họa, trồng rau, nuôi gà …, bạn đều có thể làm marketing bản thân để đưa ra thị trường những sản phẩm thuộc về tri thức, tay nghề, tài năng của bạn.

• Bạn sẽ bán sản phẩm gì từ bản thân của bạn (kiến thức, kỹ năng, tài năng, năng
khiếu, tay nghề, kinh nghiệm, ngoại hình, sức mạnh cơ bắp…)?
• Bạn sẽ bán nó với giá nào?
• Bạn sẽ bán ở đâu, bán cho đối tượng nào?
• Bạn sẽ làm cách nào để quảng bá nó cho khách hàng biết?
• Bạn sẽ nói sản phẩm của bạn giúp giải quyết vấn đề gì của khách hàng?
• Bạn sẽ định vị nó thế nào để tạo sự khác biệt?
• Bạn sẽ dùng tuyên ngôn giá trị nào để nói về sản phẩm của bạn?
• Bạn sẽ “đóng gói” sản phẩm của bạn thế nào cho thật “bắt mắt”, hấp dẫn, có sức thu hút ngay từ đầu?
• Bạn sẽ dùng những bằng chứng vật lý gì để chứng minh giá trị của sản phẩm?
• Bạn sẽ sử dụng quy trình nào để bán?
• Bạn sẽ bán theo triết lý nào?
• Con người của bạn bên như thế nào để có thể bán được sản phẩm, và bán với giá tối ưu nhất?
• Làm sao cho khách hàng tự hào hay hãnh diện khi sử dụng sản phẩm của bạn?
• Bạn sẽ tạo nhận thức trong khách hàng về sản phẩm của bạn bằng cách nào?
• Bạn sẽ thuyết phục khách hàng như thế nào về sản phẩm của bạn?
• Bạn sẽ đưa ra lời hứa gì và như thế nào về sản phẩm của bạn?
• Bạn đánh giá hiệu quả việc làm marketing và bán sản phẩm của bạn như thế nào?
• Bạn sẽ đánh giá kết quả cuối cùng là thu nhập (lợi nhuận mang về) từ việc bán sản phẩm như thế nào?
Ps: Tham khảo xây dựng thương hiệu cá nhân của tác giả Nguyễn Hữu Long.

 

Phần 3:
GIÁO VIÊN VỚI BẢN THÂN

I. Sứ mệnh nghề nghiệp:
Bằng cấp nhận được mới là bước khởi đầu, không phải đích đến nên không bao giờ giáo viên cho phép mình ngừng học hỏi, cập nhật thông tin, kiến thức, duy trì việc quan sát, đọc thêm sách, nghiên cứu với sự hỗ trợ của máy tính, công nghệ.

Luôn nhớ rằng, phụ huynh là cộng sự quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ nên cần chủ động trao đổi thông tin. Phụ huynh ngày nay có thể tiếp nhận nhiều luồng thông tin khác nhau, do đó hãy tôn trọng họ, không chỉ trích họ, hãy biết cách cung cấp kiến thức cho họ. Chúng ta là người hỗ trợ, ủng hộ trẻ, thậm chí trong mối quan hệ với phụ huynh khi cần. Bạn phải có trách nhiệm vì bạn phải hiểu góc nhìn của phụ huynh. Một số giáo viên có thể bị phụ huynh đổ lỗi. Bạn phải ý thức rằng, đó không phải là trách nhiệm cá nhân mà là trách nhiệm nghề nghiệp.

Trách nhiệm khi làm việc với người quản lý, đồng nghiệp. Dù có chuyện gì xảy ra, hãy luôn nhớ rằng, chúng ta cộng tác với nhau, không phải là chống đối lẫn nhau.

Không cung cấp thông tin của trẻ cho bất cứ ai, trừ phụ huynh của trẻ.

Hãy cẩn trọng, không dán nhãn trẻ.

Hãy theo quy tắc về trách nhiệm nghề nghiệp, được qui định trong sổ tay nghề nghiệp của trường.

Chúng ta không cần là bạn của phụ huynh, khi bé còn đang học lớp của bạn. Giáo viên là những nhân chứng trung lập. Khi bé bước vào lớp, hãy quan sát bé từ đầu đến chân. Nếu phát hiện bất thường, ví dụ vết bầm, hãy ghi nhận nó, hỏi phụ huynh.

Nếu có bất kì nghi ngờ, hãy nói chuyện với với Hiệu trường, người quản lý.

Chuẩn bị nguyên vật liệu và làm học cụ, đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức. Luôn tâm niệm chúng ta là những sản phẩm đang hoàn thiện. Vì vậy, cần luôn luôn học hỏi.

Học và đọc, thực hành để hiểu một cách sâu sắc về các triết lý của phương pháp Montessori về khuynh hướng con người, trí tuệ thấm thấu, các giai đoạn phát triển, thời kỳ nhạy cảm, ngôn ngữ, cảm quan, toán học, bình thường hóa và sự lệch lạc, sự độc lập, tự do và kỉ luật, cách quan sát khoa học, sự phát triển xã hội của trẻ ….phụng sự trẻ.

II. Sự chuẩn bị của người lớn
Bà Maria sống ở thế kỷ 19, trong thời này, theo quan niệm truyền thống, lớp học không có giáo viên sẽ không gọi là lớp học, giáo viên là trung tâm, là người đầy quyền lực, là người quyết định mọi hoạt động của trẻ em. Nhờ vào kinh nghiệm làm việc và sự quan sát của Maria Montessori, bà đưa ra quan điểm rằng: “những người giáo viên là những người phải bị động, dấu hiệu tốt nhất của giáo viên giỏi
là học sinh vẫn tự làm việc mà không có giáo viên ở đó.” Đó là một quan điểm cách mạng bùng nổ trong thời đó. Khi đó, giáo viên không còn là người lớn đầy quyền năng, mà chỉ đóng vai trò khiêm nhường là người hỗ trợ, sự nhân văn đến từ sự khiêm nhường. Bà nói rằng chúng ta cần giáo dục hỗ trợ sự phát triển tự nhiên của trẻ, mục đích tối ưu hóa tiềm năng phát triển và tạo ra một xã hội chứa
đầy sự hòa bình và thống nhất. Môi trường có chuẩn bị giúp trẻ trở thành những công dân của toàn cầu. Đây là lý do bà Maria Montessori được đề cử giải Nobel hòa bình vì bà hướng đến giáo dục tạo ra những công dân toàn cầu vì hòa bình, không vì một đất nước nào cả.

Giai đoạn đầu 0 – 6 tuổi này, trẻ em có sự phát triển nhảy vọt nhất, là giai đoạn sáng tạo nhất và có dấu ấn lâu dài nhất trong đời người. Các nghiên cứu cho thấy giai đoạn này có dấu ấn lâu dài nhất lên sự phát triển đời người. Ba trụ cột của giáo dục: Trẻ, Người lớn chuẩn bị và Môi trường chuẩn bị. Câu hỏi đặt ra là người lớn cần chuẩn bị như thế nào để phục vụ trẻ trong Môi trường chuẩn bị? Chúng ta cần
chuẩn bị cho bản thân, thúc đẩy bản thân, tự tạo ra cuộc cách mạng trong chính con người của mình.

1. Chuẩn bị về trí tuệ

Trẻ sẽ phát triển theo chu trình tự nhiên, chúng ta biết cách để làm việc cùng với sự phát triển tự nhiên của trẻ. Chúng ta phải quan sát, làm việc một cách hòa hợp, đi theo sự dẫn dắt của sự phát triển tự nhiên của trẻ.

Các quy tắc về phát triển sẽ là kim chỉ nam định hướng, đóng vai trò nền tảng cho hệ thống những hành vi, cơ sở để lập luận.

Trong phương pháp Montessori, quy tắc dựa trên quan sát, dựa trên sự phát triển tự nhiên để hỗ trợ trẻ. Chìa khóa quan trọng là giao tiếp với trẻ. Chúng ta cung cấp cho trẻ sự chính xác của thông tin và tri thức. Do đó chúng ta phải tự đọc, tự tìm hiểu, nghiên cứu, tự mình chuẩn bị về mặt trí tuệ. Đọc nhiều thì não bộ sẽ phát triển và cần được kéo dài suốt đời vì mọi thứ luôn thay đổi không ngừng. Đó là những quyển sách được viết bởi bà Maria Montessori và những nhà nghiên cứu khác. Từ đó, chúng ta tìm thấy nguồn cảm hứng, tri thức, triết lý cũng như quy tắc của sự phát triển. Khi có tri thức và kinh nghiệm, ta sẽ làm việc hiệu quả hơn với trẻ và với thế
giới xung quanh. Bên cạnh đó, chúng ta nên có những người hướng dẫn, là những mentor để đồng hành, chia sẻ kiến thức, định hướng, hỗ trợ chúng ta. Phải thật thân thiện và cởi mở với lỗi lầm của chính mình, học từ những kinh nghiệm và ngày càng hoàn thiện hơn.

2. Chuẩn bị về kĩ thuật

Phải luôn nhớ rằng, vai trò của giáo viên cần thêm sự chuẩn bị nữa ngoài trí tuệ, đó gọi là kĩ thuật. Những giáo cụ Montessori có lịch sử rất lâu đời như tháp hồng, thang nâu… cùng với kỹ thuật đi kèm nên chúng ta phải biết kĩ thuật để sử dụng đúng.

Chúng ta biết về tâm lý phát triển của trẻ, nhưng chúng ta cần biết kĩ thuật để vận dụng những hiểu biết đó. Học cụ chính là chìa khóa mở các cánh cửa ra thế giới giúp trẻ phát triển toàn diện.

Trong phát triển nhu cầu về xã hội, trẻ cần tự do nhưng cần có kỉ luật, trẻ cần biết những giới hạn. Chúng ta tìm ra cách duy trì môi trường, cần kết hợp giữa kiến thức và kỹ thuật, học cách trình bày các học cụ khác nhau trong môi trường, phân tích chuyển động, ôn tập lý thuyết và học cụ, quan sát và tìm kiếm cảm hứng để trở thành giáo viên toàn thời gian, có trọng trách. “Các học cụ không còn là trợ giúp cho giáo viên, không còn là một phương tiện giảng dạy; mà học cụ trở thành một sự trợ giúp cho đứa trẻ, trở thành phương tiện của phát triển hoặc học tập”. Chúng ta không sửa lỗi của trẻ, chỉ yêu cầu trẻ quan sát, cũng thân thiện với lỗi lầm với trẻ và cho trẻ cơ hội thân thiện với lầm của chính mình, tạo sự an toàn và chỉnh sửa trong thời điểm trung tính và tế nhị để trẻ không nhận ra.

Chúng ta định hướng để giúp trẻ thành công sau này, tạo sự an toàn về tinh thần và thể chất cho trẻ, trẻ nhận được sự tự do nhưng trẻ cần biết các giới hạn. Ví dụ : Trong lớp trẻ tự do di chuyển, tự do sử dụng ngôn ngữ… nhưng không làm phiền bạn khác đang làm việc. Hình thành cộng đồng trong lớp học để mọi người kết nối, làm việc hòa đồng, thống nhất, yêu thương lẫn nhau.

Phải thể hiện với trẻ các bài học về duyên dáng và lễ độ vì đó là những điều trẻ phải thực hiện khi sống trong một cộng đồng xã hội thực sự. Các bài học này cũng là một công cụ quản lý lớp học, là một phần chuẩn bị kĩ thuật. Ví dụ, cách xin phép trước khi mượn đồ, cách chào hỏi một ai đó, biết cách làm sao tham gia vào cuộc hội thoại…

Nên biết lúc nào cần can thiệp, lúc nào không can thiệp. Có một nguyên tắc đó là một khi không chắc chắn thì không nên can thiệp, cho trẻ tự giải quyết vấn đề, cho trẻ cơ hội để phát triển kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, một vấn đề không thể tránh trong cuộc sống. Nên biết lúc nào nên rút lui, để trẻ tập trung vào công việc của mình.

Nên đến những trường khác để tham khảo, quan sát càng nhiều càng tốt cũng là một cách hiệu quả để mở rộng kĩ năng của mình. Họ thực hiện các bài trình bày như thế nào, thao tác ra làm sao? Có thể có nhiều cách trình bày, miễn sao đạt được mục đích, logic. Đây là hành trình diễn ra xuyên suốt cuộc đời, giáo viên luôn luôn sẵn sàng học hỏi từ người khác và luôn luôn sẵn sàng chia sẻ thông tin, tri thức cho người khác.

3. Chuẩn bị về thể chất

Sự chuẩn bị cho giáo viên là một trụ cột trong phương pháp Montessori. Trong cộng đồng trẻ thơ, giáo viên là người hỗ trợ, là hình mẫu trong mọi tình huống. Ngoại hình của bạn cũng thể hiện sự tôn trọng của bạn đối với các trẻ. Bạn cần có sức hấp dẫn theo nghĩa trẻ nhìn thấy thì muốn giao tiếp, tiếp xúc với bạn.

Hãy có trang phục phù hợp để bạn có thể tự do chuyển động, ngồi xuống khoanh chân…Với nước hoa sử dụng, hãy ý thức xem trẻ có thể bị dị ứng hay không. Cũng đừng mặc trang phục hay có những trang sức làm phân tán sự chú ý của trẻ.

Ngôn ngữ giàu hình tượng, đa dạng, giàu đẹp về ngữ nghĩa và giọng điệu thu hút, sắc thái thể hiện cảm xúc do đó cần tôn trọng trẻ trong việc thể hiện sắc thái, giọng điệu. Hãy luôn chú ý về điều này. Luôn luôn nhắc nhở bản thân để hình thành thói quen khi giao tiếp với đồng nghiệp, với phụ huynh và với trẻ.

Trong cộng đồng trẻ thơ, chúng ta phải tập luyện mọi thứ… Ăn uống: Lành mạnh để có sức khỏe và có thể ngồi ăn cùng trẻ, không ăn vặt trước mặt trẻ. Ví dụ, trẻ về nói với ba mẹ “ Hôm nay cô giáo không cho con ăn, cô ăn một mình”…thì hình ảnh cô giáo không còn đẹp trước phụ huynh nữa.

Khi bệnh, giáo viên nên không đến lớp để tránh lây cho trẻ. Ví dụ, đau mắt đỏ. Trường có quy tắc về thể chất, giáo viên cần tuân thủ.
Khi vào lớp học phải quên hết vấn đề của bản thân, phải để tất cả phiền muộn ở ngoài lớp học. Môi trường lớp học là nơi của những đứa trẻ vui vẻ. Vì vậy, giáo viên là một phần của môi trường, đòi hỏi giáo viên rất nhiều về mọi mặt, thay đổi bản thân và điều quan trọng là có sự tôn trọng, tin tưởng trẻ và học cách khiêm nhường trước trẻ.

4. Chuẩn bị về tinh thần

Điều quan trọng nữa, môi trường lớp học là nơi của những đứa trẻ hạnh phúc, bạn cũng là một phần trong đó, do đó bạn cũng cần chuẩn bị về mặt tinh thần. Giáo viên Montessori là những giáo viên kiểu mới, phải chuẩn bị về tinh thần, và điều này chỉ có thể đạt được thông qua làm việc và trải nghiệm với trẻ. Đây là những thứ mà chỉ trẻ mới mang đến cho bạn.

Làm việc với trẻ sẽ thay đổi con người chúng ta, phải có tình yêu tự nhiên đối với trẻ, tôn trọng, tin tưởng sự phát triển của trẻ. Phải quan sát, khiêm nhường trước trẻ. Và sự chuẩn bị này giúp chúng ta gắn bó hơn nữa với trẻ. Đồng thời, chúng ta phải nhớ chúng ta làm việc trong cộng đồng, chúng ta cần cho trẻ thấy, cảm nhận được tính nhân văn, hòa bình, đầy tình yêu….trong cộng đồng để định hướng trẻ tự xây dựng bản thân như cách trẻ quan sát thấy trong môi trường của chúng ta, là hành trang trẻ mang theo cả đời. Đừng cố gắng trở nên hoàn hảo vì khi đó chúng ta sẽ ngừng học hỏi và hoàn thiện bản thân, sẽ không có trẻ, phụ huynh, giáo viên hoàn hảo, chúng ta chỉ cần trẻ trở nên độc nhất, duy nhất và là chính trẻ. Ví dụ, nếu iphone hoàn hảo thì không còn ra mẫu mới. Đây là lúc chúng ta thể hiện sự đồng cảm, tình yêu, cởi mở với lỗi lầm của bản thân người khác. Mối quan hệ của trẻ và giáo viên là cộng sinh, chúng ta cung cấp kiến thức, trẻ cung cấp tình yêu với chúng ta.

Kiên nhẫn và khiêm tốn là những thành phần quan trọng trong thái độ và hành vi của chúng ta đối với trẻ.

Phần 4
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN

1. Nuôi dưỡng và hỗ trợ sự phát triển tự nhiên của trẻ

Người hướng dẫn chuẩn bị và duy trì môi trường về vật lý không gian, nội thất, học cụ, vật liệu giúp trẻ tập trung làm việc từ đó giúp trẻ bình thường hóa nên môi trường cần đa dạng và phong phú, đủ dụng cụ cho trẻ tự do chọn lựa.

Đưa ra những nguyên tắc để bảo vệ, duy trì môi trường, như hoàn nguyên học cụ khi sử dụng xong, không làm phiền người khác, chuẩn bị sẵn sàng học cụ cho người tiếp theo…

Người lớn quan sát, ghi chép, lưu trữ hồ sơ nhằm chuẩn bị môi trường phù hợp với nhu cầu của từng trẻ, chỉ giúp đỡ trẻ khi trẻ thật sự cần sự giúp đỡ.

2. Chuẩn bị môi trường lớp học đẹp để thu hút trẻ:

Trẻ luôn yêu thích những thứ xinh đẹp, môi trường lớp luôn sạch đẹp, hoàn chỉnh, hấp dẫn không hư hỏng hay thiếu chi tiết. Cần bổ sung các dụng cụ bị thiếu hay đã hết, dọn dẹp lớp học khi trẻ về, thay đổi thường xuyên, luân phiên các học cụ trên kệ như thẻ 3 phần, sách trên kệ, tranh trên tường…

3. Là sợi dây liên kết trẻ và môi trường

Giáo viên của lớp học Montessori là người tạo ra môi trường Montessori đồng thời giữ vai trò kết nối trẻ với môi trường. Nếu không có giáo viên Montessorori thì môi trường lớp học, dù được chuẩn bị tốt đến đâu cũng không mang lại hiệu quả. Giáo viên là người mang lại sinh khí, khơi dậy sự sống động cho môi trường học, tối ưu hóa sự phát triển của trẻ.

4. Bài trình bày là món quà chúng ta mang lại cho trẻ

Bài trình bày là món quà của bạn dành cho trẻ, tuy nhiên cần sự đồng thuận của trẻ. Bài trình bày dựa trên sự hứng thú của trẻ và khi trình bày phải đơn giản, rõ ràng, tập trung liên kết trẻ và học cụ.

Nên hạn chế ngôn từ để hạn chế sự phân tâm của chính bạn và trẻ. “Khi tay cử động thì miệng im lặng, khi miệng cử động thì tay ngừng làm việc”. Ví dụ, khi hướng dẫn trẻ cách bê khay, giáo viên chỉ làm cho trẻ quan sát, giáo viên không nói nhiều.

Khi trình bày cho trẻ, trẻ là đối tượng quan trọng nhất và trẻ cần cảm nhận được điều này nên không ai được quyền can thiệp khi hoạt động trình bày đang xảy ra. Ví dụ: Khi đang trình bày cho trẻ, không ai được làm phiền, chỉ được ngưng lại khi có một lý do duy nhất là “Cháy”. Khi giáo viên mang ghế đến một vị trí thì trợ tá phải biết giáo viên đang làm gì.

Khi trình bày đảm bảo trẻ phải biết được khu vực làm việc ở đâu? Hoạt động gì? Phải hiệu quả, rõ ràng và có tính chất chuyển giao hoạt động cho trẻ – và một khi được chuyển giao, giáo viên phải lặng lẽ rút lui nhưng vẫn quan sát trẻ để khuyến khích trẻ lặp lại, đảm bảo đặc điểm hứng thú, chú ý, kiểm soát lỗi rõ ràng.

Tất cả học cụ phải được kết hợp với kĩ thuật để giúp trẻ hoạt động và trải nghiệm với học cụ theo cách đúng đắn chính xác nhất nhằm giúp trẻ khám phá hết các hoạt động và bài học liên quan.Và thể hiện sự tôn trọng với học cụ.

5. Là một người quan sát như nhà khoa học

Là một người quan sát như nhà khoa học, quan sát mà không mang theo sự định kiến, ý kiến chủ quan đối với sự phát triển của trẻ.

Quan sát trẻ một cách độc lập, phải đảm bảo sở thích, sự ghét bỏ cá nhân không ảnh hưởng đến nhận xét của giáo viên. Khi nào cần hỗ trợ trẻ và hỗ trợ như thế nào? Cho trẻ tự do về lựa chọn, tự do đi cùng với giới hạn. Khi quan sát, giáo viên biết thực hành là giáo viên quan sát tốt. Ví dụ: Khi quan sát giáo viên càng ghi chép lại càng nhiều càng tốt.

Quan sát không phải là khả năng bẩm sinh. Do đó, để cải thiện khả năng quan sát giáo viên phải nhạy cảm với sự quan sát, thực hành nhiều lần. Thông qua quan sát giáo viên sẽ biết sở thích, hứng thú, nhận thức, cảm xúc, tâm lý, tư duy của trẻ và cách giúp đỡ trẻ, đồng thời biết lưu trữ thông tin chính xác, cụ thể, hệ thống. Ví dụ: Bài trình bày cá nhân nào được cung cấp, dụng cụ nào được sử dụng, phong cách làm việc của trẻ, biết rõ về trẻ hơn, các cuộc đối thoại của trẻ như thế nào, biết ghi lại nội dung trẻ nói và các cử chỉ hoạt động trẻ làm… Biết thời điểm can thiệp, rút lui hoặc không can thiệp vấn đề của trẻ. Do đó, quan sát là một kĩ năng rất quan trọng.

Giáo viên cần phải thực hành hướng đến giáo dục tiềm năng của con người theo hướng tự nhiên và giáo dục phải hỗ trợ cuộc sống.

Phần 5
GIÁO VIÊN VỚI ĐỒNG NGHIỆP

Có hàng tỷ người trên Trái đất này nhưng có khi nào bạn nghĩ tại sao chúng ta lại gặp người này (đồng nghiệp) mỗi ngày, cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm việc? Họ đến để nhắc nhở ta điều gì? Đến để giúp ta hoàn thiện và nhận ra điều gì? Mọi thứ vận hành trong vũ trụ này có ngẫu nhiên?…Nhưng dù sao thì bầu không khí xung quanh ta là do ta quyết định và dù sao đi nữa thì ta cũng mong muốn sống trong bầu không khí vui vẻ nên ta sẽ làm những gì cần thiết cho mong muốn đó.

Luôn nhiệt tình tư vấn, chia sẻ, hỗ trợ, dẫn dắt, hướng dẫn đồng nghiệp trong lớp cũng như ngoài lớp và các bộ phận phòng ban khác về chuyên môn, nghiệp vụ, về thực hiện các chương trình, các hoạt động, các sự kiện…của trường.

Trong công việc sẽ có nguyên tắc: Tuyệt đối không cả nể nếu một trong những thành viên không đáp ứng yêu cầu công việc vì mục tiêu cần phải đạt được trong quá trình làm việc là phải tạo ra hiệu quả kết quả đúng thời hạn như mục tiêu đã xác định khi làm bất cứ công việc gì.

Trong công việc luôn rõ ràng, và khi cần vẫn giúp đỡ lẫn nhau để đạt hiệu quả công việc.

Luôn hợp tác với các lớp, các phòng ban khác trên tinh thần PROFESSIONAL (chuyên nghiệp) và NICE (dễ thương).

Phần 6
GIÁO VIÊN VỚI TRẺ

Chúng ta hoàn toàn không biết trẻ đến Trái đất từ đâu, trẻ đến mang theo những tiềm năng gì, và để làm nhiệm vụ gì. Do đó, chúng ta cần tôn trọng nguồn sống, sự sống này hoàn toàn.

Chúng ta đến Trái đất trước trẻ vài năm nhưng không có nghĩa chúng ta có những trải nghiệm đầy đủ để có thể chỉ dạy trẻ vì có nhiều khía cạnh trong cuộc sống, trong sự sống mà ta chưa biết, …suy nghĩ ta phải chỉ dạy trẻ có thể ta sẽ đóng khung trẻ, kìm hãm sự phát triển tự nhiên của trẻ theo sự hiểu biết nông cạn của ta. Do đó, chúng ta chỉ phải hỗ trợ trẻ, hướng dẫn trẻ, hỗ trợ trẻ kết nối với môi trường chuẩn bị với sự học hỏi và khiêm nhường.

Khi hỗ trợ trẻ, chúng ta cần quan tâm đến 5 khía cạnh con người của trẻ: 1) vật chất, 2) sức sống, 3) cảm xúc, 4) trí tuệ, 5) tâm hồn để kịp thời hỗ trợ trẻ khi cần.

Một số điều cơ bản cần quan tâm, chú ý về cơ thể vật chất, tinh thần của trẻ:

Kiểm tra, chú ý những bất thường cơ thể, tinh thần của bé khi nhận bé từ phụ huynh cũng như bé ở lớp và báo gấp với bộ phận văn phòng để hỏi thăm phụ huynh, đồng thời ghi trong sổ liên lạc. Khi trẻ ở nhà vì ốm, giáo viên gọi điện thoại hỏi thăm ngoài giờ làm việc với trẻ. Trẻ bệnh cần được chăm sóc ở nhà nên giáo viên không nhận thuốc và cho trẻ uống tại trường.

Luôn để ý sự cân bằng cơ thể của trẻ như độ vẹo lệch cột sống, vẹo lệch cơ thể, chân chữ V, chân bẹt, … và tìm giải pháp để giúp trẻ, đồng thời báo với phụ huynh.

Theo dõi trẻ và ghi chép thông tin hàng ngày của trẻ.

Các khía cạnh khác cần quan sát trẻ, giáo viên đọc kỹ trong tài liệu hướng dẫn quan sát.

Giáo viên không được phép: Không được gây tổn thương trẻ về thể chất và tinh thần qua hành động, ngôn ngữ và ý nghĩ.

Phần 7
GIÁO VIÊN VỚI PHỤ HUYNH

A. HƯỚNG DẪN CHUNG VỀ GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH

Năng lực bao gồm 3 yếu tố: kiến thức, kỹ năng, và thái độ; trong đó thái độ chiếm tỷ trọng rất cao 70-80% trong 3 thành phần cấu thành năng lực.

Kiến thức: về chuyên môn, về cuộc sống phong phú, về những trải nghiệm của bản thân,…

Kỹ năng: về cách giao tiếp, các quy trình,…

Thái độ tốt: luôn quan tâm đến phụ huynh; hãy coi họ như người thân, như bạn, như chính mình để luôn tận tình tư vấn cho họ; giúp họ tìm ra giải pháp tối ưu cho nhu cầu hỗ trợ con mà không căng thẳng; tận tình giải đáp các thắc mắc khi họ chưa hiểu và thậm chí biết cách cương quyết nói không với họ nếu như điều đó ảnh hưởng không tốt đến trẻ. Phụ huynh hay khách hàng đến với chúng ta là kết quả làm việc rất vất vả của tất cả các phòng ban của trường. Họ không luôn luôn đúng nhưng họ luôn có lý, kể cả khi họ sai và lý do đó là phần nhiều là từ ta.

Có khi họ sai vì ta không biết cách trao giá trị.

Có khi họ sai vì ta đã không truyền đạt, giải thích kỹ, không giúp họ hiểu mình và sản phẩm, nguyên tắc của mình một cách rõ ràng.

Có khi họ sai vì ngôn ngữ (lời nói, cử chỉ,…) ta gây ức chế cho họ, làm cho họ tức điên lên rồi mất kiểm soát.

Có thể họ sai vì âm điệu, cường độ giọng nói ta không rõ, ngôn từ ta nói dễ gây hiểu lầm.

Có khi họ sai vì ta không lắng nghe để hiểu họ mà chỉ cố nói để cho họ hiểu mình.

Có khi họ sai vì ta không cứng rắn mà nuông chiều họ quá mức và tạo điều kiện cho họ sai mà không dám nhắc nhở, cảnh báo họ.

Có khi họ sai vì ta tạo điều kiện cho họ sai.

Có khi họ sai vì ta tạo điều kiện cho họ nghĩ ta cung cấp dịch vụ một chiều và họ là thượng đế…

Do đó, phụ huynh sai đều có lý do ít nhiều từ ta. Ta không muốn phụ huynh sai thì ta phải nâng cấp bản thân mình, biết cách trao giá trị và mọi thứ ta làm đều tận tâm, rõ ràng và luôn liên tục nhắc nhở phụ huynh đọc kỹ và nắm rõ nội quy, những nguyên tắc.

B. GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH CỦA TRƯỜNG

1. Nói chuyện trực tiếp với phụ huynh hàng ngày

Thường là sự trao đổi ngắn khi phụ huynh đưa đón bé, giáo viên vẫn trao đổi nhiệt tình với phụ huynh và xin phép phụ huynh về việc mắt vẫn theo dõi trẻ hoạt động và có thể ngừng giữa chừng khi các trẻ cần hỗ trợ. Khi trao đổi, nói chuyện về trẻ thì đảm bảo không có trẻ ở đó.
Nếu nhiều thông tin phụ huynh hỏi, thắc mắc cần nhiều thời gian hơn để trả lời thì mời phụ huynh viết trong sổ liên lạc hoặc hẹn gặp một ngày khác một cách tế nhị vì cô vẫn đang quan sát trẻ.

2. Nói chuyện qua sổ liên lạc hàng ngày

Đảm bảo viết những thông tin đúng, đủ và có trách nhiệm về sinh hoạt của bé trong ngày.

Ngôn từ xúc tích, có nội dung, dễ hiểu, đúng cấu trúc ngữ pháp của câu, đúng các dấu câu và đặc biệt phải đúng chính tả, (nhờ các cô khác đọc và nếu từ nào chưa chắc chắn thì tra google), không dùng ngôn ngữ địa phương.

Trình bày rõ ràng, thẳng hàng, tuyệt đối không được cẩu thả.

Dùng sổ liên lạc để nhắn nhủ, dặn dò phụ huynh một số việc khác như nhờ phụ huynh mang thêm đồ cho con, nhắc trẻ mang sách cho ngày đọc sách, nhờ phụ huynh cho con đi ngủ sớm vì hôm nay con ngủ ít hoặc nhờ phụ huynh theo dõi, quan sát con vì hôm nay ở lớp con hơi ấm ấm người, …

Nhắn phụ huynh nếu có điều gì cần dặn dò, trao đổi với cô về việc chăm sóc bé thì phụ huynh vui lòng viết vào sổ, cô sẽ đọc và phản hồi lại.

Đảm bảo không bỏ sót về việc gửi những lời chúc mừng phụ huynh vào những ngày lễ, ngày sinh nhật,..và nhắn nhủ vào các dịp đặc biệt khác như nghỉ hè dài ngày, (liên hệ văn phòng để biết thông tin phụ huynh, luôn cập nhật khi có phụ huynh mới).

Nếu một số câu hỏi của phụ huynh về chuyên môn hay một số thông tin giáo viên không biết hoặc chưa chắc chắn, giáo viên cần soạn câu trả lời sau đó gửi Ms. Huyền để nhờ tư vấn.

3. Nói chuyện qua các bài đăng mạng xã hội

Ngày nay, hầu như ai cũng tham gia mạng xã hội để tìm hiểu thông tin, giải trí, làm việc, xây dựng hình ảnh thương hiệu cá nhân,…Do đó, đây là một kênh rất tốt để giáo viên có thể kết nối, tạo thiện cảm, xây dựng mối quan hệ tốt hơn với phụ huynh và giáo dục phụ huynh thông qua các bài viết nhằm hỗ trợ kiến thức cho phụ huynh và nhờ phụ huynh hỗ trợ trẻ ở nhà, giúp trẻ tốt hơn.

C. GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH THAM QUAN

Những người ta gặp trong cuộc đời ngắn ngủi này có thể chỉ một lần, do đó ta nên tận dụng mọi khoảnh khắc để đem lại sự bình an, ấm áp, vui vẻ cho nhau.

Trường sẽ thường xuyên tiếp đón phụ huynh đến thăm để lựa chọn môi trường tốt cho con yêu của họ (tốt về môi trường chuẩn bị có chỉn chu và thấy được sự tận tâm chăm sóc của giáo viên, đặc biệt là cách người lớn ở đây sống và làm việc, trẻ em Smiling Fingers có vui vẻ – hạnh phúc, bầu không khí có vui vẻ – tràn đầy tình yêu thương – thân thiện…) nên đó là cơ hội để chúng ta trao đi nụ cười, trao đi giá trị mà chúng ta có.

Một số lưu ý cần đảm bảo:

1. Với bé: lần đầu tiên bé đến môi trường mới, bé cần thời gian làm quen thích nghi nên người lớn tuyệt đối không vồ vập, chạm vào người bé. Giao tiếp với bé qua ánh mắt vui vẻ – ấm áp, hướng dẫn bé tham gia hoạt động nếu bé sẵn sàng. Giới thiệu tên mình và hỏi tên của bé, bé không trả lời cũng không sao, không cố gắng gặng hỏi. Tuyệt đối không đưa ra định kiến của mình, không chê bai bé, nếu khen bé phải có cơ sở và thật lòng mà không bị ảnh hưởng bởi ba mẹ bé và người khác. Khi hướng dẫn bé chơi nên chọn học cụ khu cảm quan bắt mắt, ít chi tiết và đảm bảo trẻ không ném học cụ.

2. Khi phụ huynh tham quan trong giờ hoạt động Montessori, phụ huynh sẽ được hướng dẫn quan sát từ ngoài cửa mà không vào môi trường. Phụ huynh đến vào buổi chiều không có trẻ hoặc có ít trẻ, thì giáo viên mời phụ huynh vào thăm lớp. Phụ huynh ở ngoài, giáo viên vui vẻ di chuyển đến và chào khách và luôn nhắc đồng nghiệp chào khách.

3. Phụ huynh sẽ được yêu cầu không chụp hình trẻ, không sử dụng điện thoại trong môi trường và không được phép làm ảnh hưởng đến trẻ em ở SFs.

4. Về chuyên môn: giáo viên phải nắm rõ, am hiểu các khu vực, chức năng của từng khu vực, từng học cụ và ghi chú lại tất cả thông tin về môi trường, về cách vận hành lớp, thứ tự giới thiệu, cách giới thiệu có cân nhắc đến mong muốn, nhu cầu đích thực của phụ huynh khi gửi gắm con mà giáo viên định chia sẻ cho phụ huynh và gửi cho Ms.Huyền góp ý để bài giới thiệu môi trường hoàn thiện hơn và GV trao giá trị một cách sâu sắc.