fbpx
Trang chủ / Smiling Fingers / Sổ tay giáo viên

Sổ tay Giáo Viên

Phần 1
NHIỆM VỤ GIÁO VIÊN

1. Hiểu và thực hiện đúng nhiệm vụ, sứ mệnh, văn hóa ứng xử của trường.

2. Bảo vệ an toàn về thể chất, tinh thần và tính mạng của trẻ trong thời gian trẻ ở trường.

3. Thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ theo kế hoạch giáo dục của nhà trường và tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nhóm, lớp được phân công phụ trách; thực hiện công tác giáo dục hòa nhập và quyền trẻ em.

4. Chuẩn bị môi trường lớp học.

5. Lập kế hoạch và soạn bài, làm học cụ giảng dạy.

6. Quan sát, ghi chú và lưu trữ những thông tin về tâm sinh lý và hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ.

7. Đánh giá, làm báo cáo sự phát triển của trẻ.

8. Họp Phụ huynh, phổ biến kiến thức hỗ trợ trẻ cho ba mẹ của trẻ, phối hợp với ba mẹ hoặc người giám hộ trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ.

9. Tham gia và chuẩn bị cho các lễ hội, hội thảo, training, sinh nhật…và các sự kiện khác của trường.

10. Tư vấn, chia sẻ, hỗ trợ, dẫn dắt, hướng dẫn đồng nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ, về thực hiện các chương trình, các hoạt động, các sự kiện…của trường.

11. Đề xuất các nội dung chuyên môn và các nội dung khác của trường.

12. Biên tập hoặc biên soạn các nội dung tài liệu giảng dạy theo chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục.

13. Sử dụng có hiệu quản và bảo quản học cụ, thiết bị, cơ sở vật chất được giao.

14. Thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công.

15. Thực hiện quy định của nhà trường và các quy định khác của pháp luật.

16. Viết, chia sẻ những mẫu chuyện có thật hoặc sáng tác, lời thoại giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô giáo.

Phần 2
GIÁO VIÊN VỚI NHÀ TRƯỜNG

Smiling Fingers được thành lập từ tháng 6 năm 2017 với mong muốn tạo môi trường vui vẻ, thoải mái, bình yên, thân thiện và giúp hỗ trợ tối đa tiềm năng tốt đẹp của trẻ, giúp trẻ học cách thích nghi và tự xây dựng bản thân mình khi đến chung sống nơi đây.

Để làm được điều này, ban lãnh đạo Nhà trường đã, đang và sẽ hợp tác, cùng chung tay với nhiều giáo viên, công nhân viên. Do đó, mỗi thành viên đều là đại diện cho Smiling Fingers dù ở bất cứ nơi đâu khi các bạn vẫn còn cộng tác với SFs.

Mỗi thành viên Smiling Fingers làm việc vì lợi ích của chính các bạn vì Nhà trường luôn đặt quyền lợi đã cam kết với toàn bộ nhân viên lên trên quyền lợi của Nhà trường (Nhà trường luôn nghĩ đến quyền lợi đã thỏa thuận trong hợp đồng với người lao động trước rồi mới nghĩ đến lợi nhuận sau) … nên Nhà trường sẽ chỉ hợp tác với nhân sự có giá trị và chuyển giao được giá trị mình có một cách hiệu quả.

Mỗi nhân viên cần xây dựng cho mình thương hiệu cá nhân, nâng cao năng lực làm việc để có thể trao giá trị dương cho người nhận và nhận được mức lương, chế độ đãi ngộ tốt nhất. Nếu Nhà trường không thể đáp ứng được thì các bạn sẽ có nhiều cơ hội tốt hơn ở môi trường mới. Chúng ta sẽ tôn trọng thỏa thuận, cam kết trước khi làm việc, tuyệt đối không ồn ào với đồng nghiệp, với những người khác và đặc biệt trên mạng xã hội.

Để biết làm thế nào để tạo thương hiệu cá nhân, các bạn có thể tham khảo bài hướng dẫn cách xây dựng thương hiệu cá nhân sau:

Thương hiệu cá nhân
Nhiều người nhầm lẫn khi cứ gắn chặt thương hiệu cá nhân với ngoại hình đẹp, trang phục chỉn chu, hợp thời trang, cách thức đi đứng, ăn nói đĩnh đạc, lưu loát, có sức thu hút, xài hàng hiệu, đi ô tô sang… Họ cứ hình dung thương hiệu cá nhân đâu đó giống như thương hiệu của các ca sĩ, người mẫu, MC trên sân khấu, hay doanh nhân thành đạt, đại gia giàu có…

Cách hiểu này là không đúng, vì bất kỳ người nào, hoạt động ở lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng thương hiệu cá nhân; và thương hiệu cá nhân không nhất thiết phải có ngoại hình chuẩn, ăn mặc sang trọng, ăn nói lưu loát, hay phải đi ô tô, dùng hàng hiệu… Thương hiệu cá nhân, cũng như thương hiệu sản phẩm, là để trả lời các câu hỏi:

• Tôi là ai?

• Tôi đại diện cho cái gì?

•Tôi có thể làm gì cho bạn (cho đối tượng mục tiêu mà mình muốn hướng đến)

• Vì sao bạn phải quan tâm?

• Làm sao để bạn tin vào điều tôi có thể làm cho bạn?

Tôi là ai, tức phải xác định rõ ràng mình là ai trong con mắt của nhóm đối tượng mục tiêu mà mình muốn hướng đến. Ví dụ, bạn là cầu thủ, thì đối tượng mục tiêu là những người hâm mộ bóng đá. Bạn là ca sĩ thì đối tượng mục tiêu mà bạn hướng đến là người hâm mộ dòng nhạc của bạn. Bạn là thủ lĩnh sinh viên thì đối tượng mục tiêu là giới sinh viên. Bạn là thầy thuốc đông y, thì đối tượng mục tiêu là những người dùng thuốc đông y …

Tôi đại diện cho cái gì, tức phải xác định rõ hơn chút nữa bạn chuyên về cái gì. Ví dụ, tôi là ca sĩ, tôi chuyên hát dòng nhạc nhẹ; tôi là cầu thủ, và là cầu thủ tiền đạo, chuyên chạy cánh trái; tối là thủ lĩnh sinh viên trong phong trào hoạt động cộng đồng; tôi là thầy thuốc đông y, chuyên trị bệnh xương khớp …

Tôi có thể làm gì, tức tôi có thể đem lại lợi ích gì cho khách hàng. Ví dụ, giọng ca khàn đặc biệt đem lại nhiều cảm xúc (nếu là ca sĩ); hiệu suất ghi bàn (nếu là cầu thủ); nhiệt huyết và kinh nghiệm tổ chức hoạt động cộng đồng (nếu là thủ lĩnh sinh viên); trị dứt đau nhức xương khớp trong vòng 6 tháng (nếu là thầy thuốc đông y) …

Vì sao bạn phải quan tâm, tức phải cho người ta thấy nguyên nhân, nguồn gốc thế mạnh của mình. Ví dụ, vì tôi được đào tạo bài bản về thanh nhạc và có giọng ca tài năng bẩm sinh (nếu là ca sĩ); vì tôi được học lớp năng khiếu bóng đá từ bé, và từng đá tiền đạo cánh trái cho các đội bóng mạnh như … (nếu là cầu thủ); vì tôi có kinh nghiệm 3 năm tổ chức hoạt động cộng đồng cho sinh viên, từ lúc còn là sinh viên năm thứ nhất (nếu là thủ lĩnh sinh viên); vì tôi đã từng chữa dứt bệnh xương khớp cho những nhân vật nổi tiếng như … (nếu là thầy thuốc đông y) …

Làm sao để bạn tin vào điều tôi có thể làm được cho bạn, tức phải chứng minh bằng chất lượng sản phẩm. Bạn phải chứng minh bằng giọng ca đặc biệt có sức thu hút của bạn (nếu là ca sĩ), bằng tốc độ dẫn bóng và hiệu suất ghi bàn (nếu là cầu thủ), là cách tổ chức hoạt động cộng đồng hiệu quả (nếu là thủ lĩnh sinh viên), là kết quả chữa bệnh (nếu là thấy thuốc đông y) …

Xây dựng thương hiệu cá nhân là một quá trình rất dài và cũng gian nan như xây dựng thương hiệu sản phẩm. Tuy vậy, khi thương hiệu cá nhân đã thành danh, lợi ích mang lại cho người có thương hiệu cá nhân là rất lớn, không khác gì thương hiệu sản phẩm đã thành danh!

Bạn làm việc ở bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào, bạn cũng có thể làm marketing bản thân trong ngành nghề, lĩnh vực ấy. Bạn là cầu thủ bóng đá, ca sĩ, nghệ sĩ, thợ mộc, thợ may, thợ nề …; bạn có tay nghề cơ khí, điện, điện tử, sửa xe, sửa nhà, xây dựng …; bạn có năng khiếu hội họa, âm nhạc, thể thao …; bạn có tài năng viết lách, ký họa, trồng rau, nuôi gà …, bạn đều có thể làm marketing bản thân để đưa ra thị trường những sản phẩm thuộc về tri thức, tay nghề, tài năng của bạn.

• Bạn sẽ bán sản phẩm gì từ bản thân của bạn (kiến thức, kỹ năng, tài năng, năng
khiếu, tay nghề, kinh nghiệm, ngoại hình, sức mạnh cơ bắp…)?
• Bạn sẽ bán nó với giá nào?
• Bạn sẽ bán ở đâu, bán cho đối tượng nào?
• Bạn sẽ làm cách nào để quảng bá nó cho khách hàng biết?
• Bạn sẽ nói sản phẩm của bạn giúp giải quyết vấn đề gì của khách hàng?
• Bạn sẽ định vị nó thế nào để tạo sự khác biệt?
• Bạn sẽ dùng tuyên ngôn giá trị nào để nói về sản phẩm của bạn?
• Bạn sẽ “đóng gói” sản phẩm của bạn thế nào cho thật “bắt mắt”, hấp dẫn, có
sức thu hút ngay từ đầu?
• Bạn sẽ dùng những bằng chứng vật lý gì để chứng minh giá trị của sản phẩm?
• Bạn sẽ sử dụng quy trình nào để bán?
• Bạn sẽ bán theo triết lý nào?
• Con người của bạn bên như thế nào để có thể bán được sản phẩm, và bán với
giá tối ưu nhất?
• Làm sao cho khách hàng tự hào hay hãnh diện khi sử dụng sản phẩm của bạn?
• Bạn sẽ tạo nhận thức trong khách hàng về sản phẩm của bạn bằng cách nào?
• Bạn sẽ thuyết phục khách hàng như thế nào về sản phẩm của bạn?
• Bạn sẽ đưa ra lời hứa gì và như thế nào về sản phẩm của bạn?
• Bạn đánh giá hiệu quả việc làm marketing và bán sản phẩm của bạn như thế
nào?
• Bạn sẽ đánh giá kết quả cuối cùng là thu nhập (lợi nhuận mang về) từ việc bán
sản phẩm như thế nào?
Ps: Tham khảo xây dựng thương hiệu cá nhân của tác giả Nguyễn Hữu Long.

 

Phần 3:
GIÁO VIÊN VỚI BẢN THÂN
I. – – – – – – – –
Sứ mệnh nghề nghiệp:
Bằng cấp nhận được mới là bước khởi đầu, không phải đích đến nên không bao
giờ giáo viên cho phép mình ngừng học hỏi, cập nhật thông tin, kiến thức, duy trì
việc quan sát, đọc thêm sách, nghiên cứu với sự hỗ trợ của máy tính, công nghệ.
Luôn nhớ rằng, phụ huynh là cộng sự quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ
nên cần chủ động trao đổi thông tin. Phụ huynh ngày nay có thể tiếp nhận nhiều
luồng thông tin khác nhau, do đó hãy tôn trọng họ, không chỉ trích họ, hãy biết
cách cung cấp kiến thức cho họ. Chúng ta là người hỗ trợ, ủng hộ trẻ, thậm chí
trong mối quan hệ với phụ huynh khi cần. Bạn phải có trách nhiệm vì bạn phải
hiểu góc nhìn của phụ huynh. Một số giáo viên có thể bị phụ huynh đổ lỗi. Bạn
phải ý thức rằng, đó không phải là trách nhiệm cá nhân mà là trách nhiệm nghề
nghiệp.
Trách nhiệm khi làm việc với người quản lý, đồng nghiệp. Dù có chuyện gì xảy
ra, hãy luôn nhớ rằng, chúng ta cộng tác với nhau, không phải là chống đối lẫn
nhau.
Không cung cấp thông tin của trẻ cho bất cứ ai, trừ phụ huynh của trẻ. Hãy cẩn
trọng, không dán nhãn trẻ.
Hãy theo quy tắc về trách nhiệm nghề nghiệp, được qui định trong sổ tay nghề
nghiệp của trường.
Chúng ta không cần là bạn của phụ huynh, khi bé còn đang học lớp của bạn. Giáo
viên là những nhân chứng trung lập. Khi bé bước vào lớp, hãy quan sát bé từ đầu
đến chân. Nếu phát hiện bất thường, ví dụ vết bầm, hãy ghi nhận nó, hỏi phụ huynh.
Nếu có bất kì nghi ngờ, hãy nói chuyện với với Hiệu trường, người quản lý.
Chuẩn bị nguyên vật liệu và làm học cụ, đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức. Luôn
tâm niệm chúng ta là những sản phẩm đang hoàn thiện. Vì vậy, cần luôn luôn học
hỏi.
Học và đọc, thực hành để hiểu một cách sâu sắc về các triết lý của phương pháp
Montessori về khuynh hướng con người, trí tuệ thấm thấu, các giai đoạn phát triển,
thời kỳ nhạy cảm, ngôn ngữ, cảm quan, toán học, bình thường hóa và sự lệch lạc,
sự độc lập, tự do và kỉ luật, cách quan sát khoa học, sự phát triển xã hội của trẻ ….
phụng sự trẻ.
II. Sự chuẩn bị của người lớn – –
Bà Maria sống ở thế kỷ 19, trong thời này, theo quan niệm truyền thống, lớp học
không có giáo viên sẽ không gọi là lớp học, giáo viên là trung tâm, là người đầy
quyền lực, là người quyết định mọi hoạt động của trẻ em. Nhờ vào kinh nghiệm
làm việc và sự quan sát của Maria Montessori, bà đưa ra quan điểm rằng: “những
người giáo viên là những người phải bị động, dấu hiệu tốt nhất của giáo viên giỏi
là học sinh vẫn tự làm việc mà không có giáo viên ở đó.” Đó là một quan điểm
cách mạng bùng nổ trong thời đó. Khi đó, giáo viên không còn là người lớn đầy
quyền năng, mà chỉ đóng vai trò khiêm nhường là người hỗ trợ, sự nhân văn đến
từ sự khiêm nhường. Bà nói rằng chúng ta cần giáo dục hỗ trợ sự phát triển tự
nhiên của trẻ, mục đích tối ưu hóa tiềm năng phát triển và tạo ra một xã hội chứa
đầy sự hòa bình và thống nhất. Môi trường có chuẩn bị giúp trẻ trở thành những
công dân của toàn cầu. Đây là lý do bà Maria Montessori được đề cử giải Nobel
hòa bình vì bà hướng đến giáo dục tạo ra những công dân toàn cầu vì hòa bình,
không vì một đất nước nào cả.
Giai đoạn đầu 0 – 6 tuổi này, trẻ em có sự phát triển nhảy vọt nhất, là giai đoạn
sáng tạo nhất và có dấu ấn lâu dài nhất trong đời người. Các nghiên cứu cho thấy
giai đoạn này có dấu ấn lâu dài nhất lên sự phát triển đời người. Ba trụ cột của giáo
dục: Trẻ, Người lớn chuẩn bị và Môi trường chuẩn bị. Câu hỏi đặt ra là người lớn
cần chuẩn bị như thế nào để phục vụ trẻ trong Môi trường chuẩn bị? Chúng ta cần
chuẩn bị cho bản thân, thúc đẩy bản thân, tự tạo ra cuộc cách mạng trong chính
con người của mình.
1. – –
Chuẩn bị về trí tuệ
Trẻ sẽ phát triển theo chu trình tự nhiên, chúng ta biết cách để làm việc cùng
với sự phát triển tự nhiên của trẻ. Chúng ta phải quan sát, làm việc một cách
hòa hợp, đi theo sự dẫn dắt của sự phát triển tự nhiên của trẻ.
Các quy tắc về phát triển sẽ là kim chỉ nam định hướng, đóng vai trò nền tảng
cho hệ thống những hành vi, cơ sở để lập luận.
– – –
2. – – –
Trong phương pháp Montessori, quy tắc dựa trên quan sát, dựa trên sự phát
triển tự nhiên để hỗ trợ trẻ. Chìa khóa quan trọng là giao tiếp với trẻ. Chúng
ta cung cấp cho trẻ sự chính xác của thông tin và tri thức. Do đó chúng ta
phải tự đọc, tự tìm hiểu, nghiên cứu, tự mình chuẩn bị về mặt trí tuệ. Đọc
nhiều thì não bộ sẽ phát triển và cần được kéo dài suốt đời vì mọi thứ luôn
thay đổi không ngừng. Đó là những quyển sách được viết bởi bà Maria
Montessori và những nhà nghiên cứu khác. Từ đó, chúng ta tìm thấy nguồn
cảm hứng, tri thức, triết lý cũng như quy tắc của sự phát triển.
Khi có tri thức và kinh nghiệm, ta sẽ làm việc hiệu quả hơn với trẻ và với thế
giới xung quanh. Bên cạnh đó, chúng ta nên có những người hướng dẫn, là
những mentor để đồng hành, chia sẻ kiến thức, định hướng, hỗ trợ chúng ta.
Phải thật thân thiện và cởi mở với lỗi lầm của chính mình, học từ những kinh
nghiệm và ngày càng hoàn thiện hơn.
Chuẩn bị về kĩ thuật
Phải luôn nhớ rằng, vai trò của giáo viên cần thêm sự chuẩn bị nữa ngoài trí
tuệ, đó gọi là kĩ thuật. Những giáo cụ Montessori có lịch sử rất lâu đời như
tháp hồng, thang nâu… cùng với kỹ thuật đi kèm nên chúng ta phải biết kĩ
thuật để sử dụng đúng.
Chúng ta biết về tâm lý phát triển của trẻ, nhưng chúng ta cần biết kĩ thuật để
vận dụng những hiểu biết đó. Học cụ chính là chìa khóa mở các cánh cửa ra
thế giới giúp trẻ phát triển toàn diện.
Trong phát triển nhu cầu về xã hội, trẻ cần tự do nhưng cần có kỉ luật, trẻ
cần biết những giới hạn. Chúng ta tìm ra cách duy trì môi trường, cần kết hợp
giữa kiến thức và kỹ thuật, học cách trình bày các học cụ khác nhau trong
môi trường, phân tích chuyển động, ôn tập lý thuyết và học cụ, quan sát và
tìm kiếm cảm hứng để trở thành giáo viên toàn thời gian, có trọng trách. “Các
học cụ không còn là trợ giúp cho giáo viên, không còn là một phương tiện
giảng dạy; mà học cụ trở thành một sự trợ giúp cho đứa trẻ, trở thành phương
tiện của phát triển hoặc học tập”. Chúng ta không sửa lỗi của trẻ, chỉ yêu cầu
trẻ quan sát, cũng thân thiện với lỗi lầm với trẻ và cho trẻ cơ hội thân thiện
với lầm của chính mình, tạo sự an toàn và chỉnh sửa trong thời điểm trung
– – – –
3. – –
tính và tế nhị để trẻ không nhận ra.
Chúng ta định hướng để giúp trẻ thành công sau này, tạo sự an toàn về tinh
thần và thể chất cho trẻ, trẻ nhận được sự tự do nhưng trẻ cần biết các giới
hạn. Ví dụ : Trong lớp trẻ tự do di chuyển, tự do sử dụng ngôn ngữ… nhưng
không làm phiền bạn khác đang làm việc. Hình thành cộng đồng trong lớp
học để mọi người kết nối, làm việc hòa đồng, thống nhất, yêu thương lẫn
nhau.
Phải thể hiện với trẻ các bài học về duyên dáng và lễ độ vì đó là những điều
trẻ phải thực hiện khi sống trong một cộng đồng xã hội thực sự. Các bài học
này cũng là một công cụ quản lý lớp học, là một phần chuẩn bị kĩ thuật. Ví
dụ, cách xin phép trước khi mượn đồ, cách chào hỏi một ai đó, biết cách làm
sao tham gia vào cuộc hội thoại…
Nên biết lúc nào cần can thiệp, lúc nào không can thiệp. Có một nguyên tắc
đó là một khi không chắc chắn thì không nên can thiệp, cho trẻ tự giải quyết
vấn đề, cho trẻ cơ hội để phát triển kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, một vấn đề
không thể tránh trong cuộc sống. Nên biết lúc nào nên rút lui, để trẻ tập trung
vào công việc của mình.
Nên đến những trường khác để tham khảo, quan sát càng nhiều càng tốt cũng
là một cách hiệu quả để mở rộng kĩ năng của mình. Họ thực hiện các bài trình
bày như thế nào, thao tác ra làm sao? Có thể có nhiều cách trình bày, miễn
sao đạt được mục đích, logic. Đây là hành trình diễn ra xuyên suốt cuộc đời,
giáo viên luôn luôn sẵn sàng học hỏi từ người khác và luôn luôn sẵn sàng
chia sẻ thông tin, tri thức cho người khác.
Chuẩn bị về thể chất
Sự chuẩn bị cho giáo viên là một trụ cột trong phương pháp Montessori.
Trong cộng đồng trẻ thơ, giáo viên là người hỗ trợ, là hình mẫu trong mọi
tình huống. Ngoại hình của bạn cũng thể hiện sự tôn trọng của bạn đối với
các trẻ. Bạn cần có sức hấp dẫn theo nghĩa trẻ nhìn thấy thì muốn giao tiếp,
tiếp xúc với bạn.
Hãy có trang phục phù hợp để bạn có thể tự do chuyển động, ngồi xuống
khoanh chân…Với nước hoa sử dụng, hãy ý thức xem trẻ có thể bị dị ứng
hay không. Cũng đừng mặc trang phục hay có những trang sức làm phân tán
sự chú ý của trẻ. – – – –
4. – –
Ngôn ngữ giàu hình tượng, đa dạng, giàu đẹp về ngữ nghĩa và giọng điệu thu
hút, sắc thái thể hiện cảm xúc do đó cần tôn trọng trẻ trong việc thể hiện sắc
thái, giọng điệu. Hãy luôn chú ý về điều này. Luôn luôn nhắc nhở bản thân
để hình thành thói quen khi giao tiếp với đồng nghiệp, với phụ huynh và với
trẻ.
Trong cộng đồng trẻ thơ, chúng ta phải tập luyện mọi thứ… Ăn uống: Lành
mạnh để có sức khỏe và có thể ngồi ăn cùng trẻ, không ăn vặt trước mặt trẻ.
Ví dụ, trẻ về nói với ba mẹ “ Hôm nay cô giáo không cho con ăn, cô ăn một
mình”…thì hình ảnh cô giáo không còn đẹp trước phụ huynh nữa.
Khi bệnh, giáo viên nên không đến lớp để tránh lây cho trẻ. Ví dụ, đau mắt
đỏ. Trường có quy tắc về thể chất, giáo viên cần tuân thủ.
Khi vào lớp học phải quên hết vấn đề của bản thân, phải để tất cả phiền muộn
ở ngoài lớp học. Môi trường lớp học là nơi của những đứa trẻ vui vẻ. Vì vậy,
giáo viên là một phần của môi trường, đòi hỏi giáo viên rất nhiều về mọi mặt,
thay đổi bản thân và điều quan trọng là có sự tôn trọng, tin tưởng trẻ và học
cách khiêm nhường trước trẻ.
Chuẩn bị về tinh thần
Điều quan trọng nữa, môi trường lớp học là nơi của những đứa trẻ hạnh phúc,
bạn cũng là một phần trong đó, do đó bạn cũng cần chuẩn bị về mặt tinh thần.
Giáo viên Montessori là những giáo viên kiểu mới, phải chuẩn bị về tinh thần,
và điều này chỉ có thể đạt được thông qua làm việc và trải nghiệm với trẻ.
Đây là những thứ mà chỉ trẻ mới mang đến cho bạn.
Làm việc với trẻ sẽ thay đổi con người chúng ta, phải có tình yêu tự nhiên
đối với trẻ, tôn trọng, tin tưởng sự phát triển của trẻ. Phải quan sát, khiêm
nhường trước trẻ. Và sự chuẩn bị này giúp chúng ta gắn bó hơn nữa với trẻ.
Đồng thời, chúng ta phải nhớ chúng ta làm việc trong cộng đồng, chúng ta
cần cho trẻ thấy, cảm nhận được tính nhân văn, hòa bình, đầy tình yêu….trong
cộng đồng để định hướng trẻ tự xây dựng bản thân như cách trẻ quan sát thấy
trong môi trường của chúng ta, là hành trang trẻ mang theo cả đời. Đừng cố
gắng trở nên hoàn hảo vì khi đó chúng ta sẽ ngừng học hỏi và hoàn thiện bản
thân, sẽ không có trẻ, phụ huynh, giáo viên hoàn hảo, chúng ta chỉ cần trẻ trở
nên độc nhất, duy nhất và là chính trẻ. Ví dụ, nếu iphone hoàn hảo thì không
còn ra mẫu mới. Đây là lúc chúng ta thể hiện sự đồng cảm, tình yêu, cởi mở
với lỗi lầm của bản thân người khác. Mối quan hệ của trẻ và giáo viên là cộng
sinh, chúng ta cung cấp kiến thức, trẻ cung cấp tình yêu với chúng ta. –
Kiên nhẫn và khiêm tốn là những thành phần quan trọng trong thái độ và
hành vi của chúng ta đối với trẻ.
Phần 4
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN
1. – – –
2. –
3. –
4. – –
Nuôi dưỡng và hỗ trợ sự phát triển tự nhiên của trẻ
Người hướng dẫn chuẩn bị và duy trì môi trường về vật lý không gian, nội thất,
học cụ, vật liệu giúp trẻ tập trung làm việc từ đó giúp trẻ bình thường hóa nên
môi trường cần đa dạng và phong phú, đủ dụng cụ cho trẻ tự do chọn lựa.
Đưa ra những nguyên tắc để bảo vệ, duy trì môi trường, như hoàn nguyên học
cụ khi sử dụng xong, không làm phiền người khác, chuẩn bị sẵn sàng học cụ
cho người tiếp theo…
Người lớn quan sát, ghi chép, lưu trữ hồ sơ nhằm chuẩn bị môi trường phù hợp
với nhu cầu của từng trẻ, chỉ giúp đỡ trẻ khi trẻ thật sự cần sự giúp đỡ.
Chuẩn bị môi trường lớp học đẹp để thu hút trẻ:
Trẻ luôn yêu thích những thứ xinh đẹp, môi trường lớp luôn sạch đẹp, hoàn
chỉnh, hấp dẫn không hư hỏng hay thiếu chi tiết. Cần bổ sung các dụng cụ bị
thiếu hay đã hết, dọn dẹp lớp học khi trẻ về, thay đổi thường xuyên, luân phiên
các học cụ trên kệ như thẻ 3 phần, sách trên kệ, tranh trên tường…
Là sợi dây liên kết trẻ và môi trường
Giáo viên của lớp học Montessori là người tạo ra môi trường Montessori đồng
thời giữ vai trò kết nối trẻ với môi trường. Nếu không có giáo viên
Montessorori thì môi trường lớp học, dù được chuẩn bị tốt đến đâu cũng không
mang lại hiệu quả. Giáo viên là người mang lại sinh khí, khơi dậy sự sống động
cho môi trường học, tối ưu hóa sự phát triển của trẻ.
Bài trình bày là món quà chúng ta mang lại cho trẻ
Bài trình bày là món quà của bạn dành cho trẻ, tuy nhiên cần sự đồng thuận
của trẻ. Bài trình bày dựa trên sự hứng thú của trẻ và khi trình bày phải đơn
giản, rõ ràng, tập trung liên kết trẻ và học cụ.
Nên hạn chế ngôn từ để hạn chế sự phân tâm của chính bạn và trẻ. “Khi tay cử
động thì miệng im lặng, khi miệng cử động thì tay ngừng làm việc”. Ví dụ, khi
hướng dẫn trẻ cách bê khay, giáo viên chỉ làm cho trẻ quan sát, giáo viên không
nói nhiều.
– – –
5. – – –
Khi trình bày cho trẻ, trẻ là đối tượng quan trọng nhất và trẻ cần cảm nhận được
điều này nên không ai được quyền can thiệp khi hoạt động trình bày đang xảy
ra. Ví dụ: Khi đang trình bày cho trẻ, không ai được làm phiền, chỉ được ngưng
lại khi có một lý do duy nhất là “Cháy”. Khi giáo viên mang ghế đến một vị trí
thì trợ tá phải biết giáo viên đang làm gì.
Khi trình bày đảm bảo trẻ phải biết được khu vực làm việc ở đâu? Hoạt động
gì? Phải hiệu quả, rõ ràng và có tính chất chuyển giao hoạt động cho trẻ – và
một khi được chuyển giao, giáo viên phải lặng lẽ rút lui nhưng vẫn quan sát trẻ
để khuyến khích trẻ lặp lại, đảm bảo đặc điểm hứng thú, chú ý, kiểm soát lỗi
rõ ràng.
Tất cả học cụ phải được kết hợp với kĩ thuật để giúp trẻ hoạt động và trải
nghiệm với học cụ theo cách đúng đắn chính xác nhất nhằm giúp trẻ khám phá
hết các hoạt động và bài học liên quan.Và thể hiện sự tôn trọng với học cụ.
Là một người quan sát như nhà khoa học
Là một người quan sát như nhà khoa học, quan sát mà không mang theo sự
định kiến, ý kiến chủ quan đối với sự phát triển của trẻ.
Quan sát trẻ một cách độc lập, phải đảm bảo sở thích, sự ghét bỏ cá nhân không
ảnh hưởng đến nhận xét của giáo viên. Khi nào cần hỗ trợ trẻ và hỗ trợ như thế
nào? Cho trẻ tự do về lựa chọn, tự do đi cùng với giới hạn. Khi quan sát, giáo
viên biết thực hành là giáo viên quan sát tốt. Ví dụ: Khi quan sát giáo viên càng
ghi chép lại càng nhiều càng tốt.
Quan sát không phải là khả năng bẩm sinh. Do đó, để cải thiện khả năng quan
sát giáo viên phải nhạy cảm với sự quan sát, thực hành nhiều lần. Thông qua
quan sát giáo viên sẽ biết sở thích, hứng thú, nhận thức, cảm xúc, tâm lý, tư
duy của trẻ và cách giúp đỡ trẻ, đồng thời biết lưu trữ thông tin chính xác, cụ
thể, hệ thống. Ví dụ: Bài trình bày cá nhân nào được cung cấp, dụng cụ nào
được sử dụng, phong cách làm việc của trẻ, biết rõ về trẻ hơn, các cuộc đối
thoại của trẻ như thế nào, biết ghi lại nội dung trẻ nói và các cử chỉ hoạt động
trẻ làm… Biết thời điểm can thiệp, rút lui hoặc không can thiệp vấn đề của trẻ.
Do đó, quan sát là một kĩ năng rất quan trọng. –
Giáo viên cần phải thực hành hướng đến giáo dục tiềm năng của con người
theo hướng tự nhiên và giáo dục phải hỗ trợ cuộc sống.
Phần 5
GIÁO VIÊN VỚI ĐỒNG NGHIỆP
Có hàng tỷ người trên Trái đất này nhưng có khi nào bạn nghĩ tại sao chúng ta
lại gặp người này (đồng nghiệp) mỗi ngày, cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm việc? Họ đến
để nhắc nhở ta điều gì? Đến để giúp ta hoàn thiện và nhận ra điều gì? Mọi thứ vận hành
trong vũ trụ này có ngẫu nhiên?…Nhưng dù sao thì bầu không khí xung quanh ta là do
ta quyết định và dù sao đi nữa thì ta cũng mong muốn sống trong bầu không khí vui vẻ
nên ta sẽ làm những gì cần thiết cho mong muốn đó. – – – –
Luôn nhiệt tình tư vấn, chia sẻ, hỗ trợ, dẫn dắt, hướng dẫn đồng nghiệp trong lớp
cũng như ngoài lớp và các bộ phận phòng ban khác về chuyên môn, nghiệp vụ, về
thực hiện các chương trình, các hoạt động, các sự kiện…của trường.
Trong công việc sẽ có nguyên tắc: Tuyệt đối không cả nể nếu một trong những
thành viên không đáp ứng yêu cầu công việc vì mục tiêu cần phải đạt được trong
quá trình làm việc là phải tạo ra hiệu quả kết quả đúng thời hạn như mục tiêu đã
xác định khi làm bất cứ công việc gì.
Trong công việc luôn rõ ràng, và khi cần vẫn giúp đỡ lẫn nhau để đạt hiệu quả công
việc.
Luôn hợp tác với các lớp, các phòng ban khác trên tinh thần PROFESSIONAL
(chuyên nghiệp) và NICE (dễ thương).
Phần 6
NHIỆM VỤ CỦA GIÁO VIÊN TRỢ TÁ
Sau đây là danh sách các nhiệm vụ được đề xuất cho Assistant của lớp học
Montessori Smiling Fingers. Nó hoàn toàn không phải là danh sách cuối cùng, nhưng
nó đóng vai trò là kim chỉ nam cho Assistant cũng như cho giáo viên Montessori đứng
lớp. Tất cả các trách nhiệm do Assistant đảm nhiệm nên được thảo luận trước với người
quản lý và GV Montessori, để giao tiếp cởi mở và hòa hợp là một phần của bầu không
khí của lớp học. Các trách nhiệm được giao cho Assistant sẽ do người quản lý và giáo
viên quyết định tùy thuộc vào nhu cầu của em bé và của lớp học. Assistant phải chịu
trách nhiệm trực tiếp với giáo viên được phân công.
Những nhiệm vụ gồm có:
 Hỗ trợ giáo viên trong việc chuẩn bị và duy trì môi trường Montessori theo chỉ
dẫn. Điều này có thể bao gồm quét bụi, lau chùi học cụ và vệ sinh môi trường,
kiểm tra và phải đảm bảo tất cả các học cụ đã được sẵn sàng, theo thứ tự, nguyên
vẹn và các trách nhiệm duy trì khác theo yêu cầu. Cần ghi chú lại vào tập riêng
và thông báo ngay với giáo viên những học cụ chưa sẵn sàng.
 Đảm bảo không để giáo viên bị gián đoạn khi trình bày (giáo viên trao món quà
tri thức đầu tiên cho em bé). Điều này có nghĩa là Assistant sẽ không tham gia
vào các nhiệm vụ khác khi giáo viên trình bày. Nếu Assistant làm việc với từng
em bé hoặc một nhóm em bé, Assistant phải cho giáo viên biết và được sự đồng
ý của giáo viên.
 Hỗ trợ em bé theo chỉ dẫn của quản lý và giáo viên.
 Hiểu rõ và thực hiện những nguyên tắc của lớp học. Góp ý với giáo viên về
những gì bạn nghĩ là sẽ giúp cho lớp học tốt hơn.
 Nắm rõ thời khóa biểu, lịch trình các hoạt động và thực hiện đúng kế hoạch.
 Hỗ trợ quản lý lớp học và can thiệp khi cần thiết. Assistant phải ngăn chặn các
hành vi có thể khiến bản thân em bé, hay những em bé khác hoặc những vật xung
quanh gặp nguy hiểm, nhưng các vấn đề hành vi nghiêm trọng cần phải báo cho
giáo viên nắm bắt xử lý bất cứ khi nào có thể. Assistant có trách nhiệm tuân thủ
các chính sách kỷ luật của trường khi có sự cố xảy ra dưới sự giám sát của họ.
 Hỗ trợ những em bé cần sự giúp đỡ khi em bé gặp khó khăn về các vấn đề cá
nhân (vệ sinh, thay quần áo, ăn uống, ngủ…). Xây dựng các chuẩn mực vệ sinh
cá nhân.
 Giám sát em bé trong giờ giải lao. Điều này bao gồm lập kế hoạch hàng tuần cho
các hoạt động và chuẩn bị học cụ, sắp xếp các thiết bị tập thể dục cho các hoạt
động theo kế hoạch.
 Chuẩn bị với sự hướng dẫn của giáo viên về các tài liệu lớp học, học cụ, thiết bị,
đồ dùng theo yêu cầu.
 Chuẩn bị bữa ăn nhẹ trong ngày hoặc hỗ trợ em bé chuẩn bị bữa ăn nhẹ trong
ngày. Hỗ trợ, giám sát thời gian ăn của các em bé.
 Chuẩn bị không gian ngủ cho em bé trong ngày. Hỗ trợ, giám sát thời gian ngủ
trưa với giáo viên.
 Có kiến thức về quy trình diễn tập chữa cháy và vị trí của tất cả các lối thoát
hiểm. Thực hiện theo quy trình để sơ tán tất cả em bé và nhân viên.
 Có kiến thức về quy trình sơ cứu. Báo cáo tất cả các tai nạn và bệnh tật ngay lập
tức và chuẩn bị một báo cáo bằng văn bản nêu rõ ngày, giờ, địa điểm và tính chất
của tai nạn hoặc bệnh tật và hành động đã thực hiện. Bất kỳ thông tin nào thuộc
trường hợp này phải được giáo viên và người quản lý nắm thông tin.
 Có kiến thức về xâm hại trẻ em, các biểu hiện của xâm hại trẻ em và trách nhiệm
pháp lý liên quan đến xâm hại trẻ em.
 Chia sẻ trách nhiệm về đảm bảo an toàn tâm lý và thể chất cho em bé mọi lúc.
 Chú ý đến những em bé có tiền án dị ứng ở trong lớp, cùng với giáo viên ghi chú
tất cả các trường hợp dị ứng do Ba mẹ cung cấp và từ quan sát. Đảm bảo rằng có
quy trình thực hiện để bảo vệ em bé khỏi bị phơi nhiễm với chất gây dị ứng.
 Giám sát lớp học theo chỉ dẫn của giáo viên. Làm việc với cá nhân và nhóm nhỏ
theo chỉ dẫn của giáo viên. Assistant không được trình bày lần đầu với các học
cụ Montessori (hoạt động với trẻ theo sự hướng dẫn của giáo viên).
 Làm gương cho em bé với các hành vi chuẩn mực. Nhận thức được tất cả những
chuyển động của bản thân và cách chúng thay đổi hành vi của trẻ như thế nào.
Sử dụng ngôn ngữ chính xác và có chọn lọc. Nhận thức được âm lượng của giọng
nói và cách nó thay đổi hành vi của trẻ như thế nào.
 Tham dự các cuộc họp nhân viên theo yêu cầu. Hỗ trợ mọi dự án, chương trình,
tập huấn học tập hoặc lập kế hoạch theo sự chỉ định của quản lý.
 Mặc dù Assistant phải có mối quan hệ thân thiện với phụ huynh, nhưng Assistant
không nên chia sẻ bất kỳ thông tin nào liên quan đến sự phát triển của trẻ với
phụ huynh. Những cuộc trò chuyện này nên từ chối hoặc được thực hiện bởi giáo
viên. Trợ tá có thể nói “Ms Giáo viên sẽ là người trực tiếp thông báo về tình hình
của con cho bố/mẹ biết. Bố mẹ hãy trao đổi với Cô ấy nhé! Em không được phép
trao đổi với bố/mẹ về con.”
 Hãy cho giáo viên biết nếu bạn sẽ vắng mặt hoặc phải đi sớm / đến muộn.
 Hãy cho giáo viên biết khi bạn rời khỏi phòng.
 Đúng giờ khi làm việc và tan ca.
 Giúp cập nhật chính xác và kịp thời các hồ sơ liên quan đến em bé. Điều này có
thể bao gồm việc cập nhật thông tin hàng ngày của bé (ăn uống, ngủ, vệ sinh,
thay quần áo, …).
 Giúp giáo viên duy trì sự hài hòa của môi trường phi vật chất bằng cách bảo vệ
quyền tự do lựa chọn của em bé, em bé làm việc bao lâu tùy thích mà không bị
làm gián đoạn, và đảm bảo em bé được an toàn về mặt cảm xúc và thể chất.
 Giúp giáo viên bảo vệ bí mật của từng em bé bằng cách không thảo luận về em
bé với bất kỳ ai (kể cả phụ huynh) ngoài giáo viên và người quản lý.
Assistant Montessori là một phần không thể thiếu của môi trường chuẩn bị và do
đó có thể hỗ trợ sự phát triển mang tính xây dựng của em bé. Điều quan trọng là
Assistant phải biết và hiểu rõ trách nhiệm được giao cho mình. Giao tiếp cởi mở là điều
quan trọng đối với sự thành công của bất kỳ mối quan hệ nào. Mối quan hệ giữa giáo
viên và Assistant sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến em bé trong quá trình chăm sóc em bé.
Phần 7
GIÁO VIÊN VỚI TRẺ
Chúng ta hoàn toàn không biết trẻ đến Trái đất từ đâu, trẻ đến mang theo những
tiềm năng gì, và để làm nhiệm vụ gì. Do đó, chúng ta cần tôn trọng nguồn sống, sự sống
này hoàn toàn.
Chúng ta đến Trái đất trước trẻ vài năm nhưng không có nghĩa chúng ta có những
trải nghiệm đầy đủ để có thể chỉ dạy trẻ vì có nhiều khía cạnh trong cuộc sống, trong sự
sống mà ta chưa biết, …suy nghĩ ta phải chỉ dạy trẻ có thể ta sẽ đóng khung trẻ, kìm hãm
sự phát triển tự nhiên của trẻ theo sự hiểu biết nông cạn của ta. Do đó, chúng ta chỉ phải
hỗ trợ trẻ, hướng dẫn trẻ, hỗ trợ trẻ kết nối với môi trường chuẩn bị với sự học hỏi và
khiêm nhường.
Khi hỗ trợ trẻ, chúng ta cần quan tâm đến 5 khía cạnh con người của trẻ: 1) vật
chất, 2) sức sống, 3) cảm xúc, 4) trí tuệ, 5) tâm hồn để kịp thời hỗ trợ trẻ khi cần.
Một số điều cơ bản cần quan tâm, chú ý về cơ thể vật chất, tinh thần của trẻ:
1.
2.
3.
4.
Kiểm tra, chú ý những bất thường cơ thể, tinh thần của bé khi nhận bé từ phụ
huynh cũng như bé ở lớp và báo gấp với bộ phận văn phòng để hỏi thăm phụ
huynh, đồng thời ghi trong sổ liên lạc. Khi trẻ ở nhà vì ốm, giáo viên gọi điện
thoại hỏi thăm ngoài giờ làm việc với trẻ. Trẻ bệnh cần được chăm sóc ở nhà nên
giáo viên không nhận thuốc và cho trẻ uống tại trường.
Luôn để ý sự cân bằng cơ thể của trẻ như độ vẹo lệch cột sống, vẹo lệch cơ thể,
chân chữ V, chân bẹt, … và tìm giải pháp để giúp trẻ, đồng thời báo với phụ huynh.
Theo dõi trẻ và ghi chép thông tin hàng ngày của trẻ.
Các khía cạnh khác cần quan sát trẻ, giáo viên đọc kỹ trong tài liệu hướng dẫn
quan sát.
Giáo viên không được phép: Không được gây tổn thương trẻ về thể chất và tinh thần
qua hành động, ngôn ngữ và ý nghĩ.
Phần 8
GIÁO VIÊN VỚI PHỤ HUYNH
A. HƯỚNG DẪN CHUNG VỀ GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH – – – –
Năng lực bao gồm 3 yếu tố: kiến thức, kỹ năng, và thái độ; trong đó thái độ chiếm
tỷ trọng rất cao 70-80% trong 3 thành phần cấu thành năng lực.
Kiến thức: về chuyên môn, về cuộc sống phong phú, về những trải nghiệm của bản
thân,…
Kỹ năng: về cách giao tiếp, các quy trình,…
Thái độ tốt: luôn quan tâm đến phụ huynh; hãy coi họ như người thân, như bạn,
như chính mình để luôn tận tình tư vấn cho họ; giúp họ tìm ra giải pháp tối ưu cho
nhu cầu hỗ trợ con mà không căng thẳng; tận tình giải đáp các thắc mắc khi họ chưa
hiểu và thậm chí biết cách cương quyết nói không với họ nếu như điều đó ảnh
hưởng không tốt đến trẻ. Phụ huynh hay khách hàng đến với chúng ta là kết quả
làm việc rất vất vả của tất cả các phòng ban của trường. Họ không luôn luôn đúng
nhưng họ luôn có lý, kể cả khi họ sai và lý do đó là phần nhiều là từ ta.








Có khi họ sai vì ta không biết cách trao giá trị.
Có khi họ sai vì ta đã không truyền đạt, giải thích kỹ, không giúp họ hiểu
mình và sản phẩm, nguyên tắc của mình một cách rõ ràng.
Có khi họ sai vì ngôn ngữ (lời nói, cử chỉ,…) ta gây ức chế cho họ, làm cho
họ tức điên lên rồi mất kiểm soát.
Có thể họ sai vì âm điệu, cường độ giọng nói ta không rõ, ngôn từ ta nói dễ
gây hiểu lầm.
Có khi họ sai vì ta không lắng nghe để hiểu họ mà chỉ cố nói để cho họ hiểu
mình.
Có khi họ sai vì ta không cứng rắn mà nuông chiều họ quá mức và tạo điều
kiện cho họ sai mà không dám nhắc nhở, cảnh báo họ.
Có khi họ sai vì ta tạo điều kiện cho họ sai.
Có khi họ sai vì ta tạo điều kiện cho họ nghĩ ta cung cấp dịch vụ một chiều
và họ là thượng đế…
Do đó, phụ huynh sai đều có lý do ít nhiều từ ta. Ta không muốn phụ huynh
sai thì ta phải nâng cấp bản thân mình, biết cách trao giá trị và mọi thứ ta làm
đều tận tâm, rõ ràng và luôn liên tục nhắc nhở phụ huynh đọc kỹ và nắm rõ
nội quy, những nguyên tắc.
B. GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH CỦA TRƯỜNG
1. Nói chuyện trực tiếp với phụ huynh hàng ngày – –
Thường là sự trao đổi ngắn khi phụ huynh đưa đón bé, giáo viên vẫn trao
đổi nhiệt tình với phụ huynh và xin phép phụ huynh về việc mắt vẫn theo
dõi trẻ hoạt động và có thể ngừng giữa chừng khi các trẻ cần hỗ trợ.
Khi trao đổi, nói chuyện về trẻ thì đảm bảo không có trẻ ở đó.

Nếu nhiều thông tin phụ huynh hỏi, thắc mắc cần nhiều thời gian hơn để trả
lời thì mời phụ huynh viết trong sổ liên lạc hoặc hẹn gặp một ngày khác
một cách tế nhị vì cô vẫn đang quan sát trẻ.
2. Nói chuyện qua sổ liên lạc hàng ngày – – – – – – – –
Đảm bảo viết những thông tin đúng, đủ và có trách nhiệm về sinh hoạt của
bé trong ngày.
Ngôn từ xúc tích, có nội dung, dễ hiểu, đúng cấu trúc ngữ pháp của câu,
đúng các dấu câu và đặc biệt phải đúng chính tả, (nhờ các cô khác đọc và
nếu từ nào chưa chắc chắn thì tra google), không dùng ngôn ngữ địa
phương.
Trình bày rõ ràng, thẳng hàng, tuyệt đối không được cẩu thả.
Dùng sổ liên lạc để nhắn nhủ, dặn dò phụ huynh một số việc khác như nhờ
phụ huynh mang thêm đồ cho con, nhắc trẻ mang sách cho ngày đọc sách,
nhờ phụ huynh cho con đi ngủ sớm vì hôm nay con ngủ ít hoặc nhờ phụ
huynh theo dõi, quan sát con vì hôm nay ở lớp con hơi ấm ấm người, …
Nhắn phụ huynh nếu có điều gì cần dặn dò, trao đổi với cô về việc chăm
sóc bé thì phụ huynh vui lòng viết vào sổ, cô sẽ đọc và phản hồi lại.
Đảm bảo không bỏ sót về việc gửi những lời chúc mừng phụ huynh vào
những ngày lễ, ngày sinh nhật,..và nhắn nhủ vào các dịp đặc biệt khác như
nghỉ hè dài ngày, (liên hệ văn phòng để biết thông tin phụ huynh, luôn cập
nhật khi có phụ huynh mới).
Nếu một số câu hỏi của phụ huynh về chuyên môn hay một số thông tin
giáo viên không biết hoặc chưa chắc chắn, giáo viên cần soạn câu trả lời
sau đó gửi Ms. Huyền để nhờ tư vấn.
Những ngày đầu viết sổ cần viết nháp và gửi cho Ms.Huyền góp ý trước
cho đến khi làm quen với cách viết hiệu quả.
3. Nói chuyện qua các bài đăng mạng xã hội –
Ngày nay, hầu như ai cũng tham gia mạng xã hội để tìm hiểu thông tin, giải
trí, làm việc, xây dựng hình ảnh thương hiệu cá nhân,…Do đó, đây là một
kênh rất tốt để giáo viên có thể kết nối, tạo thiện cảm, xây dựng mối quan
hệ tốt hơn với phụ huynh và giáo dục phụ huynh thông qua các bài viết
nhằm hỗ trợ kiến thức cho phụ huynh và nhờ phụ huynh hỗ trợ trẻ ở nhà,
giúp trẻ tốt hơn.
C. GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH THAM QUAN – –
Những người ta gặp trong cuộc đời ngắn ngủi này có thể chỉ một lần, do đó ta nên
tận dụng mọi khoảnh khắc để đem lại sự bình an, ấm áp, vui vẻ cho nhau.
Trường sẽ thường xuyên tiếp đón phụ huynh đến thăm để lựa chọn môi trường tốt
cho con yêu của họ (tốt về môi trường chuẩn bị có chỉn chu và thấy được sự tận
tâm chăm sóc của giáo viên, đặc biệt là cách người lớn ở đây sống và làm việc, trẻ
em Smiling Fingers có vui vẻ – hạnh phúc, bầu không khí có vui vẻ – tràn đầy tình
yêu thương – thân thiện…) nên đó là cơ hội để chúng ta trao đi nụ cười, trao đi giá
trị mà chúng ta có. – –
Khi phụ huynh có đặt lịch tham quan, bộ phận văn phòng sẽ báo cho giáo viên để
chuẩn bị tiếp khách, nhưng cũng nhiều lúc phụ huynh đến thăm mà không hẹn
trước. Giáo viên có thể làm hướng dẫn viên cho phụ huynh tham quan môi trường
lớp học khi được yêu cầu.
Đảm bảo luôn hợp tác với nhân viên văn phòng để buổi tham quan diễn ra tốt đẹp
và chúng ta có cơ hội trao đi giá trị của chúng ta có cho nhiều em bé khi phụ huynh
lựa chọn chúng ta.
Một số lưu ý cần đảm bảo:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Thấy phụ huynh từ xa, dù đang làm gì cũng dừng lại với nụ cười trên môi
và cúi người chào.
Phụ huynh ở khoảng cách gần, với nụ cười trên môi vui vẻ cúi đầu chào:
“Con/em chào bác/anh/chị”, “Cô [tên] chào con.”
Luôn nhắc nhở các trẻ chào khách, (thường xuyên trình bày bài cách chào
một vị khách đến thăm, cách chào nhiều vị khách đến thăm trong giờ vòng
tròn). Với những bé đang làm việc thì không làm phiền bé.
Tận tâm, nhiệt tình giới thiệu về không gian lớp học cho phụ huynh.
Lễ phép trả lời câu hỏi của phụ huynh, giáo viên chỉ trả lời các câu hỏi về
chuyên môn, về môi trường vật lý của lớp. Những câu hỏi về quản lý, học
phí, các chính sách khác,… thì nhẹ nhàng nhờ phụ huynh hỏi bộ phận văn
phòng: “Dạ, những thông tin này, bộ phận văn phòng sẽ giải đáp cho anh chị
rõ hơn ạ”.
Khi có ông bà, cha mẹ bé và bé luôn ưu tiên chào hỏi người lớn trước và ân
cần chào hỏi bé.
Với bé: lần đầu tiên bé đến môi trường mới, bé cần thời gian làm quen thích
nghi nên người lớn tuyệt đối không vồ vập, chạm vào người bé. Giao tiếp
với bé qua ánh mắt vui vẻ – ấm áp, hướng dẫn bé tham gia hoạt động nếu bé
sẵn sàng. Giới thiệu tên mình và hỏi tên của bé, bé không trả lời cũng không
sao, không cố gắng gặng hỏi. Tuyệt đối không đưa ra định kiến của mình,
không chê bai bé, nếu khen bé phải có cơ sở và thật lòng mà không bị ảnh
hưởng bởi ba mẹ bé và người khác. Khi hướng dẫn bé chơi nên chọn học cụ
khu cảm quan bắt mắt, ít chi tiết và đảm bảo trẻ không ném học cụ.
Khi phụ huynh tham quan trong giờ hoạt động Montessori, phụ huynh sẽ
được hướng dẫn quan sát từ ngoài cửa mà không vào môi trường. Phụ huynh
đến vào buổi chiều không có trẻ hoặc có ít trẻ, thì giáo viên mời phụ huynh
vào thăm lớp. Phụ huynh ở ngoài, giáo viên vui vẻ di chuyển đến và chào
khách và luôn nhắc đồng nghiệp chào khách.
9.
Phụ huynh sẽ được yêu cầu không chụp hình trẻ, không sử dụng điện thoại
trong môi trường và không được phép làm ảnh hưởng đến trẻ em ở SFs.
10. Về chuyên môn: giáo viên phải nắm rõ, am hiểu các khu vực, chức năng của
từng khu vực, từng học cụ và ghi chú lại tất cả thông tin về môi trường, về
cách vận hành lớp, thứ tự giới thiệu, cách giới thiệu có cân nhắc đến mong
muốn, nhu cầu đích thực của phụ huynh khi gửi gắm con mà giáo viên định
chia sẻ cho phụ huynh và gửi cho Ms.Huyền góp ý để bài giới thiệu môi
trường hoàn thiện hơn và GV trao giá trị một cách sâu sắc.
Phần 9
HƯỚNG DẪN HỌP PHỤ HUYNH:
1. Quy định chung: – – – –
Mỗi năm, có 2 lần họp phụ huynh 1-1 định kỳ toàn trường và mỗi thứ 5 hàng
tuần, từ 16h đến 17h, phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm có thể đặt lịch hẹn với
văn phòng trường để phụ huynh và cô được gặp trực tiếp nhằm cung cấp thông
tin cần trao đổi ngay giữa hai bên.
Trước đợt họp phụ huynh 2 tuần phải gửi báo cáo cho Ms.Huyền góp ý trước
khi chuyển cho bộ phận văn phòng gửi đến phụ huynh trước 1 tuần.
Trước đợt họp phụ huynh 2 tuần, ghi chú những điều cần trao đổi với phụ huynh
về từng trẻ và gặp Ms.Huyền để báo cáo và trao đổi về chuyên môn.
Ghi chú nhanh tất cả các thông tin ghi nhận từ phụ huynh vào sổ trong khi họp
để đảm bảo không bị thiếu thông tin nào.
2. Bước chuẩn bị: – – – – – – – – –
Phối hợp với bộ phận văn phòng để lập kế hoạch họp phụ huynh, xác định thời
gian họp của từng phụ huynh và gửi mail cho phụ huynh trước 1 tuần kèm báo
cáo học tập của bé.
Không gian: đủ mát, đủ ánh sáng, môi trường, học cụ được chuẩn bị sẵn sàng
như khi bé hoạt động để phụ huynh tham quan lớp của con.
Vị trí tiếp khách: Đặt bàn ghế vị trí sao cho phụ huynh có thể cảm được toàn
bộ không gian, ghế phụ huynh ngồi ở phía sao cho phụ huynh nhìn vào không
gian đẹp nhất của phòng.
Nước, trái cây: đảm bảo chuẩn bị bình ly sạch sẽ, đủ ly cho ba mẹ và cô. Nước
chỉ được rót khi có phụ huynh. Kết hợp với bộ phận văn phòng và bếp để đảm
bảo có đĩa trái cây tươi mới kèm chiếc nĩa, khăn giấy lau tay để mời phụ huynh.
Bình hoa nhỏ: đảm bảo có bình hoa nhỏ xinh tươi trên bàn. Nếu bàn nhỏ thì có
thể dùng 2 bàn ghép lại.
Khăn trải bàn: nếu có khăn trải bàn đẹp thì nên dùng để bàn đẹp hơn.
Hồ sơ báo cáo: gửi báo cáo về trẻ trước kỳ họp phụ huynh 1 tuần để phụ huynh
nắm thông tin trước,…khi họp chuẩn bị 1) Sổ kế hoạch trình bày, 2) Tiệp hồ sơ
ghi chú tổng quát các khía cạnh phát triển của trẻ, 3)Vở theo dõi bài học và các
sản phẩm của con, 4) Giấy bút để ghi câu hỏi phụ huynh, 5)Một số câu hỏi dành
cho phụ huynh.
Các câu hỏi cho phụ huynh: Ba mẹ có thể chia sẻ cảm nghĩ, cảm nhận của ba
mẹ khi con học ở SFs, những điều hài lòng và những điều gì anh chị nghĩ là
SFs cần khắc phục để hỗ trợ các con tốt hơn.
Tác phong giáo viên: trang phục gọn gàng, sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng, khuôn
mặt tươi tắn có thoa son nhẹ nhàng.
– –
Tâm thái giáo viên: tâm thái sẵn sàng chia sẻ, lắng nghe, học hỏi và đón nhận
thông tin.
Luôn nâng cao NĂNG LỰC nói chuyện với phụ huynh gồm kiến thức, kỹ năng,
và thái độ.
3. Bước họp phụ huynh: – – – – – – – – – – – – – – –
Mở cửa với nụ cười trên môi chào đón phụ huynh.”Dạ, em chào anh chị, em
mời anh chị vào lớp ạ”.
Mời phụ huynh ngồi ghế đã chuẩn bị. Rót nước cẩn thận rồi vui vẻ mời phụ
huynh dùng nước.”Dạ, con/em mời ông/bà/anh/chị uống nước ạ”.
Chờ phụ huynh dùng nước rồi giới thiệu mình với phụ huynh: “Dạ, em tên [Cẩm
Huyền], em có nhiệm vụ hỗ trợ sự phát triển của bé Nấm ở Smiling Fingers ạ.
Em rất vui gặp anh chị để trao đổi về việc hỗ trợ con hôm nay ạ”.
Mời ba mẹ tham quan môi trường của con và giới thiệu các khu vực, 1 số học
cụ điển hình: “Đây là toàn bộ không gian lớp học của con, em mời anh chị đi
dạo một vòng nhé”!
Về lại chỗ ngồi và mời trái cây phụ huynh.
Báo cáo về tình hình của con theo tập báo cáo đã chuẩn bị và show cho phụ
huynh xem tập kế hoạch trình bày, sổ notes, sổ theo dõi bài học và sản phẩm
của con…
Mời phụ huynh chia sẻ: “Anh chị có thể chia sẻ với em lúc bé Nấm ở nhà ạ.
Những điều anh chị thấy ở con và những điều anh chị thấy con cần hỗ trợ ở
trường”.
Phụ huynh chia sẻ và trả lời, trao đổi theo câu chuyện.
Chia sẻ những điều giáo viên cần phụ huynh hỗ trợ ở nhà.
Chân thành vui vẻ hỏi phụ huynh: “Anh chị có thể chia sẻ cảm nghĩ, cảm nhận
của anh chị khi con học ở SFs, những điều hài lòng và những điều gì anh chị
nghĩ là SFs cần khắc phục để hỗ trợ các con tốt hơn ạ”.
Cảm ơn phụ huynh và đứng dậy đẩy ghế của mình vào bàn trước khi di chuyển
tiễn phụ huynh về.
Tổng hợp, viết báo cáo file word và nộp cho bộ phận văn phòng.
Đánh giá lại, rút kinh nghiệm cho lần họp sau.
Hẹn gặp Ms. Huyền để trao đổi sau mỗi kỳ họp phụ huynh.
Trả lời phụ huynh những câu hỏi chưa được giải đáp lúc họp.
4. Một số nguyên tắc cần lưu ý: – –
Rót nước: đặt tất cả các ly chéo như khi trình bày, cầm bình cẩn thận, rót nước
vào từng ly, đảm bảo sự tập trung, cẩn thận khi rót, rót nước duyên dáng, động
tác rõ ràng và không gây tiếng ồn. Rót đầy 2/3 ly. Luôn chú ý châm nước thêm.
Khi mời phụ huynh luôn mời người lớn trước như mời ông… đến mời bà…đến
mời mẹ …đến mời ba…mời bé…rồi đến mình.
– – – – – – – –
Khi chuẩn bị ly tiếp khách, đảm bảo ly cùng bộ. Nếu trường hợp khách đông,
cần nhiều ly hơn và có thể khác bộ, thì luôn chú ý mời ly lớn cho phụ huynh
theo thứ tự ông, bà, ba rồi đến mẹ.
Khi dẫn phụ huynh đi tham quan lớp, nên dừng lại ở những học cụ mà con luôn
quan tâm và thích thú làm việc hay con đã thuần thục để vui vẻ chia sẻ với ba
mẹ, (lúc này hãy hình dung và nghĩ lại những khoảnh khắc của con lúc thực
hành để chia sẻ một cách có cảm xúc).
Luôn chân thành khi trao đổi, đi thẳng vào vấn đề, tránh vòng vo để đảm bảo
sau cuộc họp có thể biết chính xác hai bên cần gì, cần cải thiện điều gì để hỗ
trợ trẻ tốt hơn.
Nếu những gì là quy định của trường thì phải nói đúng, đủ và chính xác. Nếu
vẫn chưa chắc chắn những qui định của trường thì không được truyền thông.
Nếu những gì là hiểu biết cá nhân thì nói “Theo suy nghĩ cá nhân em là..”
Nếu không biết thì nói với phụ huynh là em không biết và em sẽ tìm hiểu và trả
lời sau.
Nếu điều gì chưa rõ, hỏi Ms. Huyền để được góp ý và trả lời ngay cho phụ
huynh vào sổ liên lạc hàng ngày.
Mỗi lần đứng dậy thì luôn đẩy ghế vào bàn, sao cho tựa ghế không chạm vào
thành bàn một cách cẩn thận, không gây ồn…phụ huynh sẽ quan sát và học
theo…
5. Giáo viên không được phép –
Trong quá trình làm việc ở Smiling Fingers (trừ trường hợp Trường đóng cửa
vì dịch bệnh), tất cả giáo viên, công nhân viên không được phép nhận giữ trẻ
đang học ở Smiling Fingers ngoài giờ. Các con về sống ở Smiling Fingers,
người lớn chúng ta bắt đầu những mối quan hệ mới. Và để cho mối quan hệ này
được nuôi dưỡng tốt bằng sự trong sáng và chân thành và qua đó làm gương
cho các con về cách chúng ta nên sống với nhau, Smiling Fingers không cho
phép Giáo viên, công nhân viên nhận quà là tiền hoặc các món quà vật chất có
giá trị khác từ Phụ huynh.
Phần 10
HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ MÔI TRƯỜNG
I. –
II. – – –
Mục đích:
Hỗ trợ sự phát triển tự nhiên của trẻ: sự tự kỷ luật, độc lập, phát triển ý chí, kết nối
với môi trường, kết nối với các bạn và người lớn, cảm thấy an toàn, thoải mái và
làm chủ trong môi trường chuẩn bị, cảm được tình yêu thương và nuôi dưỡng tình
yêu thương.
Yêu cầu kết quả:
Tất cả học cụ được sắp xếp theo thứ tự cấp độ từ dễ đến khó, từ trái qua phải, từ
trên xuống dưới.
Học cụ luôn duy trì ngăn nắp, sạch sẽ, đủ bộ, trật tự lành lặn, đẹp mắt, khoa học,
chỉn chu.
Tuyệt đối không có bụi bẩn.
III. Chuẩn bị môi trường:
1. – – –
2. – – –
3. – – –
Môi trường vật lý
Ánh sáng: Kéo rèm để đảm bảo đủ ánh sáng và ưu tiên ánh sáng tự nhiên vào
lớp.
Nhiệt độ: Mở cửa, bật quạt mỗi ngày, chỉ sử dụng máy lạnh trong giờ ngủ với
nhiệt độ mát. Những ngày nóng thì có thể cân nhắc mở máy lạnh trong giờ ăn
trưa nhưng không khuyến khích mở máy lạnh cho trẻ.
Tầm nhìn: đảm bảo không che chắn tầm nhìn của con hướng ra không gian bên
ngoài.
Khu nước uống
Kệ đựng bình ly của trẻ: sắp xếp bình ly ở vị trí sao cho trẻ có thể tự lấy dùng.
Bình ly luôn được trụng nước sôi vào mỗi sáng.
Bình đựng nước uống sành sứ: vệ sinh trong và ngoài bình vào cuối mỗi buổi.
Ấm nước cao tốc : Nấu nước sôi ở nơi an toàn và khi không có trẻ, đổ hết nước
trong bình khi không dùng và cất nơi an toàn theo quy định.
Khu ăn
Các dụng cụ muỗng, đũa, nĩa, chén được sắp xếp ngay ngắn trong tủ chỉ khi tất
cả chúng được khô ráo hoàn toàn.
Đến giờ setup bàn ăn, giáo viên mang các dụng cụ ăn uống đặt trên bàn soạn
chia một cách hiệu quả để trẻ thuận tiện trong việc setup bàn ăn. Thứ tự trẻ
mang vật dụng đến bàn là : khăn trải bàn ăn, đĩa, chén, muỗng (nĩa) và giấy ăn.
Trước khi ăn luôn setup hoặc mời trẻ setup khu vực để đặt các vật dụng khi ăn
xong (nên có label để trẻ biết đồ dùng nào để vị trí nào). Thường là các vật
dụng theo thứ tự: thau bỏ đồ ăn thừa, khay để muỗng nĩa dơ, khay để chén dơ,
khay để đĩa dơ, khay để thảm ăn dơ, khay để tạp dề dơ. –
4. – –
5. –
6. – – –
7. – – – – – –
Sau khi trẻ ăn xong, giáo viên mời nhân viên phụ bếp mang tất cả ra khỏi phòng
để rửa và trả lại đồ dùng mỗi chiều. Giáo viên đảm bảo nhận đồ dùng với số
lượng đủ.
Bàn snack
Luôn có khăn trải bàn, 1 bình hoa, 1 bình nước và 1 ly nước. Luôn trang trí khu
vực này theo mùa.
Nước trong bình phải được rửa và thay nước mới vào mỗi sáng.
Bồn rửa
Bồn rửa và khu vực xung quanh bồn rửa phải luôn khô ráo. Luôn có khăn lau
tay và khăn lau khô bồn. Hướng dẫn trẻ duy trì khu vực này và dùng khăn lau
sàn để lau sàn nhà nếu có nước.
Cắm hoa
Học cụ cần có: các bình hoa trong đó có 1 bình thủy tinh, lót bình, bình rót
nước, phểu rót, hoa, kéo, khăn lau.
Bình hoa khi cắm chỉ được đặt trên bàn làm việc, tuyệt đối không đặt trên kệ.
Hoa trẻ cắm vào các ngày sau phải thay nước và cắt làm mới nhành hoa (hướng
dẫn trẻ nếu trẻ sẵn sàng).
Bài tập thực hành cuộc sống
Không di chuyển vị trí kệ và các vị trí học cụ từng khu vực trong quá trình vận
hành giờ Montessori.
Chuẩn bị màu thực phẩm để đổi màu cho các hoạt động rót nước.
Các hoạt động với nước, nếu nước dư thừa thì hướng dẫn trẻ mang ra sân sau
đổ vào lu nước để dành tưới cây.
Chuẩn bị rau củ quả, trái cây, nguyên liệu cho các bài tập THCS: bài tập bào
rau củ quả (cà rốt, dưa leo), bài tập chấn rau củ quả (cà rốt, dưa leo), bài tập
lột vỏ trứng (trứng cút), bài tập chấn chuối (chuối cau), bài tập sử dụng chày
cối (vỏ trứng), bài tập xay tiêu (hạt tiêu), bài tập bóc vỏ tỏi (củ tỏi).
Hoạt động cho phép trẻ mang sản phẩm mình làm về nhà tặng ba mẹ là xay
tiêu và bóc vỏ tỏi. Sản phẩm sẽ được chứa trong hộp nhỏ với liều lượng được
xác định để trẻ mang về (giáo viên nói với trẻ phần còn lại sẽ được mang lên
bếp để dùng làm gia vị cho các món ăn của các con), mỗi trẻ được mang về 1
lần/tuần. Giáo viên nhắn ba mẹ trong sổ liên lạc hàng ngày về việc vui lòng
nhắc con mang trả lại hộp vào ngày hôm sau.
Luôn setup khu vực bài tập THCS trên bàn sẵn sàng cho trẻ hoạt động giờ
Montessori. Hướng dẫn trẻ duy trì lại học cụ cho bạn khác làm việc khi trẻ
hoàn thành hoạt động và cuối giờ Montessori buổi sáng Giáo viên sẽ dọn dẹp,
rửa lại tất cả các học cụ này và bày lên kệ khi đã khô ráo.
– – – – – – – – – –
8. – – –
9. – – –
Các loại hạt, nguyên liệu được dùng cho hoạt động múc xúc rót phải tính đến
mức độ thời gian tập trung của trẻ và đảm bảo trẻ hoàn thành công việc mà
không bỏ giữa chừng.
Các loại khăn được mã hóa màu: khăn lau tay màu……………….., khăn lau bồn
rửa, lavabo màu………………..Khăn lau chén màu………………., khăn lau bàn màu
…………………., khăn lau kệ + tủ màu…………………, khăn lau sàn màu……………
Các hoạt động được mã hóa màu: bào rau củ quả màu…………., chấn rau củ quả
màu……………. lột vỏ trứng màu…………….chấn chuối màu ……………… lau kính
màu…………
Các loại khăn bị bẩn, ướt (trong quá trình làm việc, sinh hoạt của trẻ) thì sau
khi trẻ hoàn thành công việc phải hướng dẫn trẻ đến kệ đã chuẩn bị để lấy khăn
thay thế cùng mã màu, khăn bẩn sẽ bỏ vào rổ chờ giặt. Khăn bẩn phải được
giặt trong ngày, tránh mốc và hôi. Để ý thay khăn mới khi khăn cũ, không đẹp
mắt. Những khăn cũ sẽ được dùng cho các mục đích khác như vệ sinh môi
trường (khi không có trẻ).
Tạp dề bé mặc làm việc được trưng bày chỉn chu, xếp ngay ngắn và đẹp mắt,
tạp dề phải được giặt trong ngày nếu bị vấy bẩn.
Thảm làm việc : luôn sạch sẽ, cuộn thảm không nếp gấp, đặt thảm ngay ngắn
đúng vị trí trong giỏ thảm.
Các hoạt động xâu hạt: Dây xâu hạt phải có độ dài tương ứng với số lượng hạt
chuẩn bị. Số lượng hạt xâu cũng phải tính đến mức độ tập trung và sự hứng thú
của trẻ. Luôn check lại các lỗ hạt, dây xâu để đảm bảo sẵn sàng cho bé làm
việc.
Hoạt động mang vớ: vớ luôn đảm bảo setup theo cặp, sạch sẽ. Nếu vớ cũ và
không còn đẹp mắt thì đề xuất thay.
Hoạt động gấp quần áo: Đảm bảo quần áo được gấp ngay ngắn, đẹp mắt bằng
các cách khác nhau theo mỗi loại quần áo và gấp theo cách gấp đồ ở nhà hoặc
gấp đồ khi đi du lịch.
Hoạt động quét nhà: Chuẩn bị stick và hướng dẫn trẻ dán xuống sàn trước khi
quét nhà để trẻ quét tập trung rác vào một điểm.
Cảm quan
Thay đổi học cụ tương đương cách tối thiểu 2 tuần 1 lần và quan sát sự thích
thú của trẻ để kéo dài thời gian duy trì học cụ đó trên kệ.
Mỗi tầng kệ nên chỉ 3 học cụ, có thể cân nhắc mức tối đa là 4 học cụ.
Học cụ được đặt sát mép ngoài của kệ, canh chỉnh khoảng cách cân đối, không
đặt sát hai bên hông kệ.
Ngôn ngữ
Tạo môi trường sử dụng ngôn ngữ nói hiệu quả và trao giá trị.
Chuẩn bị rổ rau củ quả, gia vị, tươi cho góc ngôn ngữ. Có thể nhờ bếp hỗ trợ.
Chuẩn bị khay đồ vật để giới thiệu cho trẻ biết tên gọi trước khi cho vào túi bí
mật.
– – – –
Thay thế hoặc bổ sung các bài hát, bài thơ, câu chuyện xã hội 2 tuần 1 tập mới
(theo danh sách bài quy định theo chủ đề khác nhau theo mùa, lễ hội…) và phụ
thuộc vào sự ghi nhớ, thích thú của trẻ . Mỗi ngày đều đọc và hát cho tất cả trẻ
nghe về các bài này ít nhất là 1 lần.
Mỗi khay thẻ ngôn ngữ có 5 thẻ. Thay thế hoặc bổ sung các thẻ ngôn ngữ với
nhiều chủ đề khác nhau 2 tuần 1 lần. Mỗi thẻ ngôn ngữ giáo viên gắn với một
câu chuyện thật và sinh động. Và chuẩn bị đồ vật thật ứng với hình ảnh trong
thẻ nếu được.
Tất cả đồ dùng trong môi trường đều là học cụ ngôn ngữ, giáo viên cần giới
thiệu tên gọi cho trẻ một cách chính xác, rõ ràng.
Túi bí mật: thay học cụ trong túi 2 tuần 1 lần và đảm bảo tất cả các đồ này trẻ
đều biết gọi tên. Khuyến khích trẻ thò tay vào túi, nhắm mắt cảm nhận và đoán
tên.
10. Âm nhạc –
Học cụ được đựng trong túi bí mật
11. Nghệ thuật – – – – –
Vẽ : Một khay gồm 3 tờ giấy trắng 2 mặt A5, khay phấn crayon 1 màu đã lột
lớp vỏ ngoài. Chỉ sử dụng một trong 3 màu cơ bản là màu đỏ, màu vàng, màu
xanh dương, khăn lau tay ẩm. Đến 1 giai đoạn đủ sẽ thêm 1 khay có chứa 2
màu, 3 màu cơ bản. Giáo viên sẽ ghi tên của trẻ vào bức vẽ và hướng dẫn trẻ
bỏ vào khay sản phẩm (có mã hóa màu và nhãn dán) đã chuẩn bị sẵn trên kệ để
mỗi cuối tuần sẽ gửi về cho ba mẹ.
Dán : Một khay gồm 3 tờ giấy trắng 2 mặt A6, 1 đĩa đựng các stick nhiều hình
dạng đã chuẩn bị (kích thước stick đảm bảo phù hợp với kỹ năng của trẻ trong
giai đoạn này), hủ đựng hồ dán, cọ quét hồ, khăn lau tay ẩm, thảm lót. Giáo
viên sẽ ghi tên của trẻ vào sản phẩm và hướng dẫn trẻ bỏ vào khay sản phẩm
(có mã hóa màu và nhãn dán) đã chuẩn bị sẵn trên kệ để mỗi cuối tuần sẽ gửi
về cho ba mẹ.
Cắt : Một khay gồm 5 dãi giấy có kẻ đường thẳng, kéo đầu tròn, khay nhỏ
đựng sản phẩm sau cắt. Giáo viên sẽ ghi tên của trẻ vào sản phẩm, bấm các
mảnh giấy lại và hướng dẫn trẻ bỏ vào khay sản phẩm cắt (có mã hóa màu và
nhãn dán) đã chuẩn bị sẵn trên kệ để mỗi cuối tuần sẽ gửi về cho ba mẹ.
Bấm hoa : Một khay gồm 1 bấm hoa, 3 mảnh giấy màu A6 hoặc nhỏ hơn, 1
hủ đựng sản phẩm sau bấm, 1 khay đựng giấy còn lại có mã hóa màu và nhãn
dán.
Xé dán : Một khay gồm 3 tờ giấy báo nhỏ hơn A6, 2 tờ giấy trắng 2 mặt A4, 1
đĩa đựng giấy báo sau xé, hủ đựng hồ dán, cọ quét hồ, khăn lau tay ẩm, thảm
lót. Giáo viên sẽ ghi tên của trẻ vào sản phẩm và hướng dẫn trẻ bỏ vào khay
sản phẩm (có mã hóa màu và nhãn dán) đã chuẩn bị sẵn trên kệ để mỗi cuối
tuần sẽ gửi về cho ba mẹ.

Các hoạt động nghệ thuật khác vào buổi chiều theo lịch, giáo viên sẽ gửi giáo
án cho Ms.Huyền hoặc người phụ trách phần nghệ thuật để xét duyệt trước khi
hướng dẫn hoạt động cho trẻ.
12. Bàn trang điểm: –
Gương, lược, khay đựng dây buộc tóc, cài, lọ hoa được sắp xếp hợp lý và luôn
được duy trì.
13. Phòng vệ sinh – – – –
Luôn duy trì phòng vệ sinh sạch sẽ khi sử dụng.
Cửa vệ sinh và tay cầm nếu vấy bẩn cần được lau sạch ngay.
Tường trong phòng vệ sinh luôn đảm bảo phải sạch bóng, giáo viên chịu trách
nhiệm báo cho nhân viên vệ sinh duy trì khi cần thiết.
Bao rác được lồng vào thùng rác sao cho không thấy bao rác khi đóng nắp
thùng.
14. Phòng thay đồ – – –
Vách ngăn phòng thay đồ, gương soi, lavabo luôn duy trì sạch sẽ, khô ráo,
không bám bụi.
Luôn có 2 ghế đặt đúng vị trí và 2 giỏ có quai để trẻ đựng đồ sạch, 1 rổ đựng
đồ dơ.
Trong phòng có 1 khăn lau tay, 1 khăn lau khô lavabo, 1 khăn lau sàn có màu
được mã hóa.
15. Tủ cặp-mền gối – – – –
Luôn đảm bảo không bám bụi, không vết bẩn, đảm bảo không có keo dán cũ
trên bề mặt.
Các nhãn dán tên bé được mã hóa, cân chỉnh ở giữa cân đối và thống nhất.
Sắp xếp và hướng dẫn trẻ sắp xếp các vật dụng trong tủ tối ưu, hợp lý, đảm bảo
cửa tủ đều được đóng khít.
Không để bất cứ vật dụng gì trên đầu tủ ngoài hoa được setup để tăng thẩm mỹ
cho lớp và khay để sổ liên lạc của trẻ.
16. Tủ dự trữ học cụ –
Tât cả những học cụ, nguyên vật liệu được lưu trữ một cách cẩn thận, khoa
học, đẹp mắt, ngăn nắp, trật tự, phân loại rõ ràng từng bộ, từng khu vực và
thuận tiện cho việc lấy ra để sử dụng.
17. Bàn ghế: –
Đ
ược lau sạch sẽ hàng ngày.
18. Đồ dùng nội thất, trang trí: —
Tủ y tế : luôn sạch sẽ và luôn đảm bảo có đầy đủ các loại thuốc, vật dụng cơ
bản theo danh sách yêu cầu của phòng y tế.
Vách kính trong lớp
:
nếu vấy bẩn cần lau ngay và định kỳ cuối tuần nhân
viên vệ sinh sẽ tổng vệ sinh, đảm bảo không có keo dán cũ trên bề mặt. –
Đồng hồ: đảm bảo luôn chạy, muộn nhất là 24h phải được thay pin.
– – – – – – – – –
Kệ trang trí, tranh ảnh: đảm bảo sạch sẽ, không bám bụi bẩn và không để bất
cứ vật dụng gì ở khu vực này.
Cây trong lớp: Tìm hiểu và chỉ chọn loài cây an toàn cho bé trước khi trồng,
luôn có khay lót chậu, chăm sóc cây và bổ sung đất khi cần, đảm bảo chậu luôn
được lau chùi sạch sẽ, đảm bảo tất cả các lá khô úa và rách phải được cắt tỉa,
đảm bảo lá được lau bụi sạch sẽ. Định kỳ cứ mỗi cuối tuần phải mang cây ra
ngoài để đón nắng. Cây bị chết phải loại ra khỏi môi trường.
Chậu hoa trên kệ: tuyệt đối không tưới nước ngay trên kệ, chậu hoa phải
được mang xuống bàn hoặc dưới sàn để tưới nước.
C
hậu cây treo tường: tưới nước vừa đủ để không vấy bẩn tường, sàn nhà và
học cụ đồ dùng xung quanh.
Vườn cây: luôn sạch sẽ, ngăn nắp.
Rèm: Rèm được buộc một cách chỉn chu, duyên dáng, đảm bảo vạc rèm thẳng
ngay ngắn. Khi rèm được kéo ra để che nắng cần chỉnh sửa để đảm bảo không
bị gấp, bị vướng vào kệ hoặc học cụ và khoảng cách các nếp gấp phải đều nhau.
Nhãn dán (label): nhãn được dán một cách chỉn chu, đều nhau và theo mã hóa
về màu sắc, hình dạng, kiểu chữ, kích thước…cho từng khu vực theo quy định.
Thay label bị cũ, bị rách trong vòng 2 ngày khi phát hiện.
Sàn nhà và Thảm chùi chân: Sàn nhà đảm bảo sạch sẽ và khô ráo. Thảm sàn
đảm bảo sạch sẽ, trải thảm không nếp gấp, đặt thảm ngay ngắn đúng vị trí.
Thảm bị ướt đem ra khỏi môi trường và nhờ nhân viên vệ sinh giặt.
Giá treo khăn để ở sân sau: mỗi buổi chiều phải mang vào để tránh mưa ướt,
gấp khăn khô và đặt lên kệ.
Phần 11
SỬA CHỮA, THAY THẾ, LƯU TRỮ HỌC CỤ, NGUYÊN VẬT
LIỆU, NỘI THẤT….
1. Nhiệm vụ – – – – – – – – –
Luôn ghi chép cẩn thận vào sổ các đồ dùng bị hư hỏng. (stt/đồ dùng/sửa
chữa/cần thay thế/thiếu chi tiết/ngày/nguyên nhân/GV kí tên). Sổ này sẽ gửi lại
cho nhân viên văn phòng vào mỗi cuối tháng.
Nếu học cụ bị hỏng, thiếu bộ phải lấy ra khỏi kệ. Trường hợp trẻ làm vỡ – bể –
hư hỏng, thời gian đưa bộ học cụ đủ bộ vào lại kệ tối thiểu từ 4 ngày sau khi bể
và giải thích cho con là cần thời gian để sửa chữa hoặc mua cái mới.
Học cụ hư hỏng, giáo viên chuyển cho nhân viên bảo vệ để sửa chữa có giao
nhận, ký tên. Thu lại học cụ muộn nhất sau 3 ngày. (stt/đồ dùng/tình trạng
/ngày/GV kí tên)
Với học cụ bằng vải nếu rách, khuy áo bị hỏng, giáo viên cần khâu lại trong
vòng 3 ngày kể từ khi bị hư hỏng.
Các học liệu in ấn như các bài thơ bài hát bị nhàu, bị rách cần loại ra môi trường
và luôn note lại để in bổ sung.
Các sách bị nhàu rách thì loại ra khỏi môi trường và duy trì, dán lại (nếu được)
trong tuần.
Tấ
Thay label bị cũ, bị rách trong vòng 2 ngày kể từ khi phát hiện.
Để ý thay các loại khăn mới khi khăn đã cũ, không đẹp mắt.
t cả những học cụ, nguyên vật liệu được lưu trữ một cách cẩn thận, khoa học,
đẹp mắt, ngăn nắp, trật tự, phân loại rõ ràng từng bộ, từng khu vực và thuận
tiện cho việc lấy ra để sử dụng.
2. Đề xuất học cụ-dụng cụ –
Giáo viên điền vào sổ đề xuất và gửi cho nhân viên văn phòng. Xuất kho vào
cuối mỗi tuần. STT/ Dụng cụ / Số lượng/ Lý do /ký tên
Phần 12
VẬN HÀNH LỚP
1.
2.
3.
Lịch Trình hoạt động trong ngày của lớp
Hoạt động
Thời gian
7h30-8h30
8h30-10h30
10h30-11h00
11h00-11h30
Đón trẻ, ăn sáng
Hoạt động Motessori
Circle time trong lúc mời 1 số bạn setup bàn ăn
Ăn trưa
11h30-12h00
12h00-14h15
Thay đồ, hát ru, đọc sách, kể chuyện
Ngủ trưa
14h15-14h45
14h45-15h15
15h15-16h00
16h00-17h
Ăn xế
Anh văn
Vận động, yoga, …
Trẻ về với gia đình
Sỉ số lớp và cách nhận bé – – –
Lớp Baby, chúng ta nhận tối đa 12 bé cho mỗi lớp nhỏ, tỷ lệ 5-6 bé/GV. 24 bé
sẽ sử dụng cả 2 không gian.
Giai đoạn đầu, lớp nhận bé 12 bé. Sau đó mỗi tuần chúng ta sẽ nhận 1 bé mới.
Đôi khi, PH không sắp xếp được thì thời gian nhận bé mới có thể cách nhau 3
ngày.
Khi vận hành, GV luôn đảm bảo đếm số bé hiện diện trong lớp vào đầu giờ và
báo cáo cho bộ phận văn phòng để lưu thông tin và báo bếp ăn…sau đó, tối thiểu
cứ cách 1,5h lại đếm số lượng bé của lớp và note vào sổ theo dõi. (Cần lập bảng
theo dõi: STT/giờ trong ngày/ngày của tháng).
Quy định trong môi trường
a. Về việc ăn
Thức ăn chuẩn bị là thức ăn thô nên có thể một số trẻ chưa thực sự quen ăn
thô, chưa quen với việc cầm muỗng và đang làm quen với lịch sinh hoạt mới,…
nên GV cần hỗ trợ để vẫn đảm bảo bé có đủ dinh dưỡng, đồng thời bé vẫn được
trao cơ hội để tập những kỹ năng tự múc xúc, tự chủ trong ăn uống.
b. Về mặc cởi tả
Nếu trẻ đã mặc tả từ nhà thì trong giờ hoạt động Montessori, có thể trẻ mặc
tả nhưng sau một thời gian GV cần hỗ trợ để trẻ cởi tả hoàn toàn. Cân nhắc một
số trẻ mặc tả bỉm trong giờ ngủ trưa. GV chỉ nhắc nhở con đi vệ sinh, tuyệt đối
không xi tè, không xi ị để đảm bảo bàng quang của trẻ phát triển khỏe mạnh.
c. Về việc ngủ của trẻ
Khi trẻ ăn trưa xong, không cho trẻ nằm ngủ liền vì thức ăn chưa tiêu và có
thể bé sẽ bị trào ngược. Ăn xong, trẻ sẽ được đi dạo ngoài sân tối thiểu 30 phút
rồi mới đi ngủ.
Trong khi trẻ ngủ: Luôn có GV thay nhau trực trong thời gian trẻ ngủ. Một
số lưu ý:
 Đầu trẻ sẽ không quay vào kệ chứa học cụ, đầu trẻ không quay về
hướng bắc,
 Không cho bé nằm dưới dầm nhà.
 Kiểm tra gối của bé để đảm bảo gối không cao làm ảnh hưởng đến
cột sống của trẻ.
 Kiểm tra nhiệt độ phòng không lạnh chỉ đủ mát, – Đảm bảo tắt đèn,
kéo rèm để giảm ánh sáng.
 Luôn cho trẻ nằm ngữa hoặc nằm nghiêng bên phải.
 Luôn kiểm tra mền gối, đảm bảo không che mặt trẻ hay cấn lưng làm
ảnh hưởng cột sống trẻ.
d. Khi trẻ bệnh
GV thực hiện sơ cấp cứu chăm sóc trẻ tại lớp và báo cho bộ phận văn phòng
gọi điện cho PH. Nếu trường hợp trẻ găp nguy hiểm, khẩn cấp phải đưa trẻ đến
cơ sở y tế gần nhất cho dù chưa liên lạc được với PH.
4.
Các quy định trong giờ làm việc – – – – – –
Không dùng điện thoại trong lớp học và dưới tầng trệt (kể cả phụ huynh).
Ôm đồm nhiều đồ: chỉ cầm 1 đồ vật 1 lần (khay, khối tháp hồng, khi dọn bàn
ăn…).
Làm nhiều việc cùng một lúc: chỉ làm 1 việc một lúc và tập trung vào hành
động đang làm (không bưng khay và đá cửa để đóng cửa, vừa múc canh vừa
kéo ghế…).
Dùng chân để làm việc: các học cụ Mon được thiết kế cho đôi bàn tay, ngoại
trừ các học cụ vận động (không phải học cụ Mon).
Dẫm chân lên thảm: Đi bộ chậm rãi xung quanh thảm.
Mang khay bằng một tay hoặc mang khay nghiêng (bàn cao hay ghế): Dùng 2
tay bám chắc vào hai quai của khay, mang chắc chắn và lưu ý khi mang thì
đảm bảo mặt khay/bàn/ghế song song với mặt sàn, không bị nghiêng đổ về
trước/sau.
– – – – – –
5.
Cầm đồ bằng tay không: Nên dùng khay/rổ khi cầm các vật/đồ riêng lẻ.
Đi nhanh trong môi trường: Nên đi chậm rãi với tốc độ của trẻ (một nửa tốc
độ của người lớn do chân trẻ bị ngắn).
Đưa ra quá nhiều hướng dẫn: Những hướng dẫn không cần thiết là chướng
ngại trong sự phát triển của trẻ.
Kéo lê vật trên sàn/mặt bàn…
Chỉ cho trẻ về 1 điều gì đó thì sử dụng cả bàn tay (không chỉ bằng 1 ngón tay,
khi đọc sách có thể sử dụng 2 ngón tay).
Luôn duy trì đồ vật, học cụ,…ở tất cả môi trường một cách ngay ngắn, đẹp
mắt.
Các quy tắc cốt lõi – –
6.
Không làm hại bản thân và người khác: cắn, xô ngã, cướp đồ, hét to trong lớp.
Không làm hại môi trường: lạm dụng học cụ (sử dụng theo cách không mang
tính xây dựng, không tập trung, không có lợi cho sự phát triển của trẻ) ném
học cụ, dẫm lên, đập học cụ vào nhau một cách mạnh tay, làm xước học cụ/bàn
ghế bằng dao/kéo/nĩa, nhổ cây, lấy đất/sỏi trong chậu cây vãi ra sàn…
 Khi trẻ làm các điều trên cần dừng trẻ bằng thể chất (nắm lấy tay, ôm lấy
trẻ…) để dừng hành động đó ngay lập tức, kèm theo giải thích ngắn gọn với
giọng cứng rắn nhưng không mang tính đe dọa.
Những điều trẻ không có sự lựa chọn – – – – – –
7.
Đi vệ sinh ra bỉm thì ngay lập tức phải thay (nếu trẻ đang làm việc, có thể đợi
1 vài phút đến lúc trẻ thoát ra khỏi sự tập trung thì lập tức đưa trẻ vào nhà vệ
sinh/phòng thay quần áo, nếu tình huống nghiêm trọng thì phải làm ngay).
Rửa tay trước khi ăn, sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh để hạn chế việc lây nhiễm
bệnh.
Giờ làm việc không đi xuống sân lớn (trừ trường hợp các trẻ mới trong 1-2
tuần đầu tiên khi trẻ chưa quen với chu kỳ làm việc 2 tiếng đối với lớp 0 – 3).
Giờ ngủ không đi xuống sân: trẻ có thể đi lại, làm việc trong lớp nhưng cửa
đóng để đảm bảo an toàn cho trẻ, và giữ yên tĩnh cho các bạn khác nghỉ ngơi.
Việc thay quần áo không được diễn ra trong khu vực làm việc, chính xác là
trong nhà vệ sinh, có thể đóng cửa lại.
Trẻ chỉ làm việc với học cụ khi học cụ đó đã được người lớn trình bày cho trẻ.
Những điều nên khuyến khích trẻ làm
(nhưng nếu trẻ không làm hoặc quên thì cũng không sao vì trẻ mới chưa quen
với cách sinh hoạt, người lớn sẽ giúp nhưng cố gắng để dần dần trẻ sẽ có thói
quen tự làm.) – – –
Nhắc trẻ chào Ba mẹ trước khi vào Trường: “Chúc ba mẹ một ngày làm việc
vui vẻ.”
Chuẩn bị bàn ăn (thảm, muỗng, yếm) trước bữa ăn.
Dọn bàn ăn sau khi ăn xong.
– – – – – – – – – – – –
Lấy 2 bộ học cụ cùng một lúc ra thảm (cô sẽ nhắc trẻ và nếu trẻ không cất bớt
1 bộ, người lớn sẽ cất giúp để học cụ sẵn sàng cho trẻ khác).
Làm việc trên bàn/thảm.
Dọn đồ rơi vãi trên sàn.
Đặt các thành phần của bộ học cụ vào khay và đặt khay về vị trí cũ.
Dọn thức ăn rơi vãi trên sàn.
Tôn trọng không gian làm việc của bạn (không nên sờ vào đồ bạn làm việc,
không nói/làm phiền khi bạn đang làm việc, nên bỏ hai tay sau lưng khi quan
sát bạn). Nhưng nếu người bạn kia vui vẻ với việc có một người làm cùng thì
tôn trọng sự lựa chọn của cả 2 bạn.
Đợi đến lượt mình. Nếu trẻ không đợi đến lượt mình mà muốn làm chung với
bạn, nếu bạn kia vui vẻ, thì chúng ta tôn trọng sự lựa chọn của cả 2 bạn. Cần
chắc chắn về việc ai là người sử dụng học cụ đó trước để giải quyết khi xảy ra
tranh chấp.
Lấy gối mền chuẩn bị cho giờ đi ngủ.
Cất gối mền vào tủ sau khi ngủ dậy một cách ngay ngắn và cánh tủ được đóng
lại mà không bị hở.
Nhắc đi vệ sinh: Trước chu kỳ làm việc, trước khi ăn, trước khi đi ngủ, sau
khi ngủ dậy, trước khi về nhà. Hoặc khi quan sát thấy trẻ có dấu hiệu buồn đi
vệ sinh (khác nhau ở từng trẻ).
Nhắc trẻ uống nước.
Điểm danh: Ngay sau khi cô nhận trẻ từ tay ba mẹ.
Phần 13
KẾ HOẠCH TRÌNH BÀY- QUAN SÁT – LƯU TRỮ – BÁO CÁO
1. Lập kế hoạch trình bày. – –
Lập kế hoạch tuần cho từng trẻ vào sổ kế hoạch.
Khi đã trình bày cho trẻ thì note lại trong sổ biểu mẫu. Lập biểu mẫu các hđ
từng khu, chia n
2. Quan sát: – –
Đọc kỹ tài liệu hướng dẫn quan sát trẻ trong môi trường.
Bốn mức độ ghi chú khi quan sát: đã trình bày P, đang thực hành, cần hướng
dẫn lại và đã thuần thục M.
3. Lưu trữ – viết báo cáo – – –
Quan sát hoạt động hàng ngày của trẻ và note nhanh vào sổ nhỏ mang theo ở
tạp dề để làm tư liệu cho việc viết sổ liên lạc hàng ngày.
Hai tháng sẽ tổng kết viết báo cáo 1 lần dựa trên ghi chép trình bày và quan sát
để gửi báo cáo qua email cho Phụ huynh.
Tổng kết 6 tháng về sự phát triển của trẻ để nghiên cứu và họp Phụ huynh.
4. Bài viết về tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ
“Kevin may mắn vì được theo học một cao nhân từ sớm, ông chỉ dạy rất nhiều
thứ, từ những thứ rất nhỏ như cách đi đứng, chào hỏi tới làm ăn, kinh doanh. Trong
đó có một thứ mà ông nhắc đi nhắc lại phải nhớ và rèn luyện cho bằng được nếu
muốn làm nên đại nghiệp, chỉ dạy xong thì ông đuổi xuống núi, bảo khi nào thành
công có được một đế chế thì hẹn gặp lại còn không thành thì thôi gặp thấy nhức đầu
(ý là lượn), đại ý là:
“Muốn đánh giá khả năng tư duy của một người, hãy quan sát cách họ sử dụng
ngôn ngữ nói và viết vì ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất của tư duy.
Những người sâu sắc là những người có khuynh hướng sử dụng từ ngữ chính xác,
cấu trúc câu gãy gọn và cách thức biểu đạt hợp lý. Vì họ chú trọng đến hiệu quả của
việc truyền tải thông tin của mình đến người nghe nên khi nói hoặc viết họ sẽ tìm
cách để đối phương hiểu được thông điệp một cách rõ ràng, cụ thể và đúng đắn
nhất. Không nên nói thừa và cũng không nên nói thiếu, không dùng những từ ngữ
dễ gây hiểu lầm hoặc khó hiểu và điều chỉnh giọng nói của mình về âm lượng cũng
như biểu cảm hợp lý. Khi viết những người tinh tế sẽ chú ý đến cấu trúc câu, lỗi
chính tả, cách sử dụng dấu câu, cách viết hoa và hiếm khi viết tắt.
Ngược lại những người hời hợt thường không chú ý đến hiệu quả của việc
truyền tải thông tin qua kênh nói và viết. Họ thường có khuynh hướng nói tắt nói
gọn và hy vọng người nghe phải hiểu những gì mình không nói hoặc nói dài dòng
lê thê những điều không quan trọng. Khi buộc phải phát biểu ý kiến, họ thường nói
một cách miễn cưỡng, không đầu không đuôi với âm lượng chỉ đủ cho bản thân họ
nghe khiến cho người đối thoại phải hỏi đi hỏi lại nhiều lần hoặc đặt ra nhiều câu
hỏi gợi ý nếu muốn nghe được câu trả lời hoàn chỉnh. Khi viết, những người hời
hợt thường viết sai chính tả những từ đơn giản, chấm phẩy hoặc viết hoa tùy tiện và
thường hay viết tắt theo thói quen của mình”. Bạn nào dính mấy lỗi nhỏ này thì sửa
đi nhé.
Mấy người từng trải (đặc biệt trong giới làm ăn họ tiếp xúc với nhiều người
trong quá trình lăn lộn thương trường) nên chỉ cần thông qua ý văn, nét chữ, câu
nói họ đọc được vị mình là người tào lao hay thông minh, lanh lợi nếu muốn có cơ
hội làm ăn với tầng lớp tinh hoa này thì phải điều chỉnh từ những thứ nhỏ nhất nhé
các bạn. Vất vả thời gian đầu nhưng sau này thành quả mình hưởng chứ ai đâu mà
không sửa có phỏng không ạ.”_ Bài viết của Kevin Nam Khanh.
Phần 14
HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH ĐÓN BÉ TỪ BA MẸ
1. Mở cửa nhẹ nhàng bằng tay nhưng dứt khoát và nhanh chóng, không gây tiếng
động mạnh.
2. Với nụ cười vui vẻ, cúi người chào Phụ huynh: “dạ, em chào ba mẹ Nấm”, rồi
quay sang nhìn bé : “Cô [tên] chào Nấm”. Và một số câu giao tiếp với bé về niềm
vui buổi đầu ngày như khi phát hiện bé có cái gì mới, ví dụ:”Nấm có dép mới,
thích quá à!…hay dựa vào cảm xúc của bé:”Cô thấy hình như Nấm có chuyện vui,
lát Nấm chia sẻ với Cô nhé !”…
3. Mĩm cười đợi phụ huynh hoặc giúp phụ huynh đỡ bé xuống xe. Giúp bé mang túi
vải nặng (không phải balo nhẹ của bé).
4. Vẫy tay, cúi người chào tạm biệt ba mẹ bé:”dạ, em chào ba mẹ Nấm, chúc anh chị
ngày làm việc vui vẻ.”…quay sang trẻ hướng dẫn, nhắc nhở bé vẫy tay và chào ba
mẹ và chúc bà mẹ một ngày làm việc vui vẻ, hẹn chiều nay sẽ gặp lại.
5. Đi phía sau bé hay nắm bàn tay bé (không nắm ở cổ tay hay cánh tay) để dẫn bé
vào trường. Với em bé đang có cảm xúc không vui, GV ngồi xuống nói chuyện và
có thể ôm bé vào lòng nhưng không bế lên.
6. Dẫn bé đến ghế cởi giày, hướng dẫn bé đặt balô bên cạnh,… cởi nón…rồi đến áo
khoác… rồi ngồi xuống xếp áo nón bỏ vào balo… rồi hướng dẫn và mời bé cởi giày
dép đặt ngay ngắn lên kệ dép.
7. Cùng bé vào lớp, mời bé mở balo lấy sổ liên lạc bỏ vào rổ để sẵn trên bàn, lấy
bình nước đặt trên kệ bình ly.
8. Mời trẻ lấy quần áo sắp ngay ngắn lên tủ quần áo,…kéo khóa balo và đặt vào tủ.
9. Mời trẻ ra ngoài sân chơi với các bạn.
10. Đúng 8h kém 5, rung chuông báo hiệu giờ chơi đã hết, mời trẻ dọn dẹp…rồi vào
lớp rửa tay chuẩn bị ăn sáng.
Một số điều cần lưu ý:
1. Vì an toàn cột sống cho bé, giáo viên luôn kiểm tra balo bé đảm bảo không được
quá nặng và hai quai balo phải đều nhau khi bé mang. Nhắc nhở ba mẹ bé khi cần
thiết.
2. Hướng dẫn và kiên nhẫn đợi bé tự thực hiện việc cởi mũ nón, áo khoác, giày dép
mà không làm thay. Đây là một trong các bài trình bày được thực hiện ngoài lớp
học. Với bé nhỏ và chưa có thể tự làm, GV có thể hỗ trợ nhiều hơn nhưng luôn
hướng đến sự độc lập của bé.
3. Bé đến lớp còn ngái ngủ, GV có thể nói với bé
việc việc ăn sáng xong, con có thể ngủ nếu con muốn.
4. Nhắc bé chào ba mẹ nhưng nếu bé chưa sẵn sàng thì không sao và tuyệt đối không
ép, không phán xét bé hư, bé không vâng lời. Người lớn làm mẫu chào ba mẹ bé
mỗi ngày, một ngày nào đó bé sẽ làm theo.
5. Hướng dẫn bé để giày dép đúng khu vực của lớp. Những ngày đầu luôn theo bên
cạnh bé để hướng dẫn cho đến khi bé quen và trở thành nhịp điệu, tuyệt đối không
nên đứng từ xa để hướng dẫn. Khi hướng dẫn bé, luôn đảm bảo người lớn ngang
tầm mắt với bé.
6. Chú bảo vệ có thể bận dắt xe cho khách, nên GV sẽ đảm bảo việc kiểm soát cửa
ra vào để bé không chạy ra ngoài, đảm bảo an toàn.
7. Khi làm việc với bé luôn có nguyên tắc toàn tâm toàn ý, nhưng ở khu vực này có
nhiều bé phải được hướng dẫn, trình bày cùng một lúc nên đòi hỏi GV phải tập
luyện khả năng quan sát bao trùm tổng thể, và khi giao tiếp với bé nào cũng nên
giao tiếp một cách sâu sắc để bé vẫn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm
của Cô dành cho mình dù thời gian rất ngắn…nên luyện tập giao tiếp hiệu quả bằng
mắt, khuôn mặt và cử chỉ trong trường hợp này.
Phần 15
HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH GIỜ TRẢ BÉ
1. Mở cửa duyên dáng, nhanh chóng khi ba mẹ/ ông bà đến đón bé.
2. Với nụ cười, cúi người chào ba mẹ/ông bà, ví dụ: “dạ, con chào ông bà Nấm ạ.”
Và mời ông bà: ” ông bà ngồi ghế chờ một lát, con đi gọi bé ạ.”
3. Tìm bé đang chơi với bạn, đi đến nơi bé nói vừa đủ nghe với bé về việc ông bà
đến đón.
4. Nhắc trẻ vẫy tay chào ông bà trước khi lấy balo, …”Nấm vẫy tay chào ông bà đi
con!”
5. Hỏi trẻ con muốn chơi nữa hay về. Nếu bé muốn chơi, mời bé đến xin phép ông
bà cho con chơi thêm và chuẩn bị ghế ngồi cho ông bà chờ cháu.
6. Cùng trẻ vào lớp lấy balo khi bé muốn về. Bé mang balo nhẹ, GV mang túi xách
nặng giúp bé.
7. Mời bé đặt balô bên ghế mang giày dép rồi đi lấy giày dép. GV gửi túi xách nặng
cho Phụ huynh.
8. Mời bé mang dép. GV trình bày cách mang giày dép cho bé nếu cần thiết.
9. Với nụ cười trên môi, tiễn bé về với Gia đình và chúc con lời chúc tốt đẹp và hẹn
gặp lại, ví dụ: “Cô [tên] chào Nấm nhé! Chúc con và Gia đình buổi tối vui vẻ và
ấm áp nha con. Ngày mai mình gặp nhau nhé nhé!”
10. Với nụ cười trên môi, cúi đầu chào ông bà và chúc ông bà buổi tối vui vẻ.
11. Chỉ đóng cửa khi xe Phụ huynh đã lăn bánh hoặc nếu bé còn đông, cần quan sát,
hỗ trợ bên trong, GV phải thông báo với Phụ huynh: ” dạ, con xin đóng cửa trước
ạ.” Và chờ phụ huynh phản hồi thì mới đóng cửa một cách nhẹ nhàng và cẩn trọng
với nụ cười trên môi.
Một số điều cần lưu ý:
1. Khi Phụ huynh đến đón, GV có thể chủ động gọi bé hoặc lịch sự nhờ GV khác gọi
giúp. Luôn đến gần bé để thông tin, tuyệt đối không gọi với từ xa.
2. Luôn chú ý và giao tiếp với con trong khoảng thời gian này cho đến khi bé về.
3. Luôn lễ phép, thân thiện, mĩm cười với ba mẹ/ông bà. Khuyến khích giao tiếp
bằng mắt về niềm vui với Phụ huynh khi quan sát con chơi hoặc thực hiện một
việc gì đó như vui sướng với khả năng cởi giày dép của con được cải thiện,…
4. Tuyệt đối không chê bai, đưa ra những định kiến, phán xét trẻ, nói về những sai
lầm (do trẻ đang trên quá trình hoàn thiện mình) của con trên lớp,…
5. Đóng cửa nhẹ nhàng và không gây tiếng động.
Phần 16
HƯỚNG DẪN QUAN SÁT GIỜ CHƠI Ở SÂN
1. Quy định sân chơi – – – – – – – –
Không ném cát, sỏi, đá.
Dùng giọng nói trong nhà ở sân chơi trong nhà. Trẻ muốn nói lớn, la hét, có thể
làm việc đó ở ngoài sân.
Dùng xe xong để lại khu vực đậu xe (ở giữa 2 khối gỗ gần cây sơri).
Khi lên cầu trượt/dàn đu thì không chạy nhảy.
Giải thích cho trẻ hiểu để trẻ không hái hoa, bẻ cành, dẫm lên các con vật nhỏ
trong vườn cây.
Giải thích cho các anh chị lớn về việc di chuyển cần thận để tránh va chạm vào
các em nhỏ.
Khi có các tình huống nghiêm trọng nếu không xử lý được hoặc không chắc về
cách xử lý, các bạn có thể đưa trẻ lại môi trường và nhờ các cô khác giúp đỡ.
Luôn luôn nhắc lại các quy tắc này với trẻ vì trẻ thường mải chơi và hay quên.
Nhưng nếu trong một buổi chơi mà trẻ vi phạm trên 3 lần mặc dù đã nhắc nhở
thì cần tách trẻ ra khỏi khu vực sân chơi (đưa về lại lớp, giao lại cho giáo viên
chủ nhiệm), trước khi làm việc đó cần giải thích cho trẻ hiểu.
2. Các lưu ý – – – –
Đảm bảo mũi bé luôn khô ráo, sạch sẽ. Do đó, GV luôn quan và chuẩn bị
giấy trong tạp dề để đưa cho bé tự lau hoặc hỗ trợ bé khi cần. Giấy dùng xong,
hướng dẫn bé bỏ vào thùng rác.
Đảm bảo tóc bé luôn gọn gàng. GV buộc tóc cho bé và luôn chuẩn bị dây buộc
tóc trong tạp dề.
Không dùng điện thoại và nhắc nhở PH về qui định này trong khuôn viên của
bé. “Dạ, trường qui định Giáo viên và phụ huynh không được sử dụng điện
thoại trong khuôn viên trường. Anh chị vui lòng sử dụng ngoài khuôn viên
trường ạ.”
Phụ huynh đến đưa đón bé, nếu nán lại chơi, GV hướng dẫn PH đọc nội quy
dán trên bảng thông tin và chuẩn bị ghế gỗ để mời PH ngồi và nói với PH là
nếu cần bất cứ sự giúp đỡ nào thì gọi GV : “dạ, anh chị/ông bà cần sự giúp đỡ
gì thì cứ gọi em/con nhé !”
Trên đây là những quy định, những nội dung hướng dẫn mà Nhà trường mong
muốn tất cả giáo viên làm đúng quy định và cùng hợp tác vì lợi ích của trẻ. Những
nội dung này có thể được Nhà trường cập nhật khi chúng tôi nhận thấy cần phải
thống nhất quan điểm giữa giáo viên và Nhà trường để có thể hỗ trợ sự phát triển
của trẻ một cách tốt nhất. Xin chân thành cảm ơn bạn đã đọc hết hướng dẫn này!